Chỗ Một Đời Em Vẫn Để, Dành (Tác Phẩm 31)

21 Tháng Sáu 20218:09 CH(Xem: 222)
Chỗ Một Đời Em Vẫn Để, Dành (Tác Phẩm 31)


ChoMotDoiEm_w_content

Chỗ Một Đời Em Vẫn Để, Dành.

Tùy bút

Mẫu bìa: Khánh Trường

Phụ bản họa: Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Đinh Cường, Khánh Trường

Phụ bản nhạc: Anh Bằng, Trần Duy Đức, Khang Thụy

Ngoại tập: Nguyễn Phương Minh đọc tùy bút Du Tử Lê

Tủ Sách Văn Học Nhân Chứng xuất bản lần thứ nhất

Nhà xuất bản Văn Nghệ tổng phát hành

1995



Sao nỗi niềm tôi tươm xót, xa


“những con tôm bưởi thay tim khác

“sao nỗi niềm tôi tươm xót xa.”

Thơ Du Tử Lê


Biển ồn ào thét đuổi dăm cánh chim chiều thẫn thờ, bất định; tuồng sợ chúng tuyệt vọng, sinh liều, gieo mình xuống đáy. Hoặc giả, sâu xa hơn, sóng không muốn chúng chứng kiến cảnh  biển đang lén lút thả những/ chiếc dù/ mùi hương/ đêm tối lên vạt ngọn rừng dương nám, nỏ. Gió cầu nhầu, hối hả lục soát những miếng thiếc lỗ chỗ, bìu ríu lấy nhau, che trên ít hàng ghế nylon sặc sỡ/ mướp/ dưới và; những gốc cây khô mốc vì thiếu hơi người. Ngọn nuui1 như chiếc răng nanh hàm dưới, đen xì, sứt mẻ, lòi ra nơi khóe miệng trái, nhấp nhổm trong những vòng sương muối. Thình lình, gió tắt tiếng. Sóng vớt vát thêm ít hồi vật vã, rồi cũng bấm bụng thở đều, nhẹ lại. mây ùn ùn kéo tới. Mọi khoảng cách thâu hẹp. những chiếc dù/ mùi hương/ đêm tối trên vạt ngọn rừng dương nở nứt, rơi chụp lên bãi. Đêm hiện ra đột ngột, như cô gái câm, điếc, lỡ thì với ngậm ngùi tê liệt. Những ngậm ngùi/ tê liệt nhẵn thín, thân thuộc tới không còn cảm, thức. 

Một trong bốn người, đang ngả lưng trên ghế bố, bật đậy:

“Mưa mất.”

Tiếng nói của người đàn ông có một mi mắt bị dời ăn, ném ra, tựa một miểng chai, cứa trên nền đá cứng. Nó bay biến như cánh chim bị nuốt chửng trong chiếc bao tử lớn. Phát hiện của người đàn ông càng khiến bầu khôn khí thêm ngột ngạt. Sự thất lạc tới oi bức, đẩy mỗi người va vào chân tường suy nghĩ, đặc quánh những che đậy, dấu diếm, riêng.

Như để bảo kê cho cảm nhận của mình, vẻ bồn chồn, bối rối, thấy rõ trên gương mặt hốc hác của người đàn ông. Khuôn mặt mới đó còn chớp lóe bao kiêu hãnh/ bất mãn quá khứ và, tương lai ngợp hy vọng. Anh bị ung thư phổi. Một lá đã được bàn tay thần kỳ của bác sĩ cho đi chơi chỗ khác. Lá còn lại, được anh nâng niu đưa vào cuộc chạy đua. Một bên, thần chết; một bên, anh và, ông thầy thuốc Nam. Người tự nhận có khả năng trị bá bệnh; luôn ung thư và Aids.

Theo vợ anh, người đàn bà đẫy đà (dư nước?), ngồi cạnh, thì, ông thầy chữa bệnh, như có sử mạng phải làm phước, chứ không vì tiền. Dĩ nhiên, con bệnh ngầm hiểu, muốn ân hưởng tối đa sự linh thiêng, mầu nhiệm kia, phải biết lót tay thầy. Mà, vật lót tay thực tế nhất, khôn ngoan nhất, có gì hơn tiền? Một xã hội bị phá sản tận gốc vì miếng ăn, bao giờ cũng nẻ ra từ đất thó, những “thầy,cô” đóng vai cứu nhân độ thế!

Đêm, như cô gái câm, điếc, lỡ thì với nỗi ngậm ngùi in, khắc, tẽ hàng, cuối mắt, như đuôi cá. Người đàn bà đẫy đà thu hai cánh tay trên vai ghế, khoanh lại trước ngực, đúng lúc cơn ho khan trờ tới. Có thể nàng muốn nói một lời gì đó, đở cho chồng và; cơn ho đến không đúng lúc (?)

Người đàn ông ngồi đối diện người đàn bà đẫy đà, nhoài người trên mặt bàn hẹp, mời thuốc chồng bà. Người đàn ông có một mi mắt bị dời ăn ngập ngừng, chưa biết có nên đón lấy.

Người đàn bà ngồi cạnh người đàn ông thứ hai níu lại. Nhìn vào mắt nàng, anh chợt nhớ căn bệnh bạn. Anh gật đầu, thở dài, thay lời xin lỗi và, cảm ơn. Tự đốt cho mình một điếu thuốc, anh đăm đắm nhìn, biển.

Trăng thượng tuần, cùng lúc nhuộm vàng vũng biển và; lia những miếng kim khí mỏng, liếc qua liếc lại dưới chân sóng. Người đàn ông lần tay qua bên người đàn bà có đôi mắt biết nói. Anh tìm thấy những ngón tay dài, nhưng chai, nhám. Người đàn bà rùng mình, định rụt tay về. Người đàn ông nhăn mặt. Anh bóp những ngón tay mắc cỡ trong tay mình, tựa muốn bóp tan, xự xa cách hay, niềm rạo rực thầm thì, rất sóng.

Người đàn ông có một mí mắt dời ăn dường bị ám ảnh, không phải cơn mưa tron dự đoán, mà; bị vây khổn bởi chính dự đoán của mình.

“Mưa mất.”

Người đàn bà đẫy đà gỡ đôi tay đánh đai quanh lồng ngực, tở một hơi dài, tựa mừng rỡ đã tháo gỡ được cái đai sắt quá lớn, bao quanh thùng gỗ mảnh. Nàng nói:

“Có thể. Đừng sợ, anh.”

“Không. Mưa mất!”

Người đàn ông đáp như trong cơn mộng du.

“Không. Mưa mất!”

Anh cho thấy tựa câu trả lời “không sợ” của anh và, dự cảm “mưa mất” là hai sự kiện biệt lập hoàn toàn, không ăn nhậu gì tới nhau.

Người đàn bà thoáng khó chịu, nhưng vẫn nhìn chồng bằng ánh mắt thương yêu, kiên nhẫn (hay làm ra vẻ kiên nhẫn,) nâng ly nước ngọt lên môi. Nàng muốn nuốt trôi cái oi bức, ngột ngạt của cơn mưa lẩn quất đâu đó nơi chồng? Nàng muốn trấn áp cơn oi bức, ngột ngạt khác, vừa dấy lên nơi nàng (?) Thí dụ, đêm, như người cô gái câm, điếc, lỡ thì ngậm ngùi nung nấu tiếc rẻ, trong so sánh, tưởng tượng về những vuốt ve, những ôm ấp, những chăn gối mà bạn nàng có được. Rõ ràng trưa nay, tại chỗ, nàng bắt gặp người đàn ông có thói quen thở dài, nằm đè lên bạn nàng trong phòng, giữa lúc nàng đẩy cửa bước vào, tìm họ, đi ăn.

Trí tưởng tượng nào cũng có khả năng tự tháp cho nó cả nghìn đôi cánh ước mơ thầm kín, lớn.

Trí tưởng tượng nhấc bổng người đàn bà đẫy đà lên những tầng trời cao, hút. Nó mở banh những cánh cửa ẩn ức. Những cánh cửa dục tính. Nó làm thành những ngột ngạt, những oi bức và, cho nàng dự cảm “mưa mất”. Nhưng là một cơn mưa khác. Cơn mưa khát khao, đổ trên vùng đất nóng rẫy, xao xuyến.

Người đàn ông có thói quen thở dài, búng mẩu thuốc về phí ngọn núi. Đốm lửa vạch một đường thẳng trước khi rớt. Anh chờ đợi một đám cháy rừng. Một đám cháy? Nên lắm chứ. Tại sao không (?) khi mọi người, luôn anh, vốn là đống củi nỏ, kho thuốc súng, sẵn sàng đợi, nổ.

Người con gái nói (bằng mắt) điều gì đó với bạn. Người đàn bà đẫy đà gật đầu. Nàng đứng lên. Người đàn ông đứng lên. Họ đứng dưới những chiếc dù mùi hương/ đêm toi6`/ trên vạt ngọn rừng dương nở, nứt cùng, cái ngột ngạt, oi bức của mọi cố gắng hòa nhập bất thành giữa bốn người và, cơn mưa trong dự đoán của người đàn ông.

Đêm, như cô gái câm, điếc, lỡ thì với ngậm ngùi nung nấu mùi biển tanh, nuốt xuống. Người đàn ông nói với bạn:

“Tôi ra biển”

Người đàn ông có một mí mắt dời ăn, tuồng chưa ra khỏi cơn mộng du, gật đầu:

“Hai người đi đi, Mưa mất,”

Họ đi bên nhau với một khoảng cách nhạt nhẽo. Tựa cả hai cùng cảm thấy ngượng nghịu, lúng túng bởi mỗi bước chân, mỗi cử động của họ đều đang bị…dời ăn. Hay chúng đang bị ăn trong những con mắt canh chừng bởi niềm ngậm ngùi sùng sục ganh tỵ?

Trăng nhuộn biển vàng thẫm và, những miếng kim khí liếc qua liếc lại dưới chân sóng dường lớn hơn, nhậm lẹ hơn khi họ tới gần mé nước.

Người đàn bà quen nói bằng mắt nhìn ngược về rừng dương. Dẫy hàng quán chỉ còn là khối đen nhận ra được nhờ những tảng sáng xanh yếu, vấy lam nham từng vũng nhỏ. Nàng cầm lấy tay người đàn ông (bằng tất cả liều lĩnh?) Tay nàng như khối nước cđá có nhiều cạnh cứng.

“Anh ấm quá.”

Người đàn bà thì thầm. Hơi thở đầu tiên thành tiếng của nàng, lập tức, bị sóng gạt phăng đi một cách tội nghiệp. Nó cũng tội nghiệp như than vãn rụt rè, tuyệt vọng của nàng vậy. Người đàn ông dừng bước. Họ quay lưng lại rừng dương. Anh quàng tay qua vai người đàn bà, tự hỏi không biết có phải nàng muốn nói tay anh ấm?

Trần mây vẫn nặng, thấp. Mùi tóc khét nắng, mùi cát oi, mùi cá mú tanh ngộp, mùi tro than biệt ly còn âm ỉ cháy. Anh ngửi được luôn mùi tức tưởi, mùi thương yêu và thù hận; mùi rạo rực hâm hấp mồ hôi và, mùi trả thù nẫu, rịn.

“Nếu anh biết bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng, mỗi khi nhìn biển, mỗi khi thấy sóng, em chỉ muốn buôn mình, gieo trọn cái xác thân vô nghĩa của mình xuống đáy. Sống, đã chẳng ra gì, tại sao ta không tìm lấy cho mình một cái chết thênh thang, biệt tích. Đôi khi, em lại nghĩ, thật tức cười, biết đâu, em chả được gặp anh, nơi đó.”

Người đàn bà nói “thật tức cười,” nhưng trên gương mặt nàng lại chỉ hằn, nhô nỗi hờn, oán.

Người đàn ông thở dài:

“Đáy hay ngọn vốn chỉ là một cách nói. Điều quan trọng, chúng ta là ai, thề nào giữa chia lìa.”

Người đàn bà im lặng. Nàng không biểu lộ một phản ứng nào ngoài cử chỉ rúc đầu vào cổ người đàn ông. Nàng hít thở đầy một lồng ngực: đêm, câm, điếc trong niềm góa bụa/ trăng vượt xa trên ngọn núi tối/ sóng, thủy chung rì rầm với tỏ bày bất biến tự thiên cổ (tùy mỗi trái tim, mỗi đất trời rộng hẹp, mà, cảm nhận và diễn dịch.) Lát sau, nàng nói, như tiếp tục đuổi theo, những ý nghĩ trước đó của nàng:

“Anh không thể hình dung đời sống em, sau chia lìa. Không ai, dù tự ti cách mấy, như em, có thể  tưởng tượng được cảnh đời mình, đột nhiên/ châng lâng/ không trọng lực/ không chằng rễ. Em không chờ đợi anh bỏ em, như thế. Em không chờ đợi cả một xã hội đảo ngược, đầu xuống đất, chân lên trời. Như thế. Như thế. Như thế. Như thế. Anh tưởng tượng đi!”

Tưởng tượng? Không. Người đàn ông không thể cũng chẳng thấy cần thiết, tưởng tượng.

Bằng vào tấm lòng, bằng vào kỷ niệm, những điều thiết tha rung động cũ, hình ảnh người kia, là tấm gương soi trung thực nhất của kẻ này.

Anh với người đàn bà, ý nghĩ đó. Anh nói, như một thú nhận/ mặc cảm/ tội lỗi. Trước nhan Chúa mọi người đều bình đẳng. Nhưng trong đời sống, bình dẳng này lại là món hàng xa xỉ, trò câu khách của những con buôn chính trị.

Người đàn bà thở hắt ra, tựa thiên cổ, sóng vẫn hằng thở hắt ra như thế. Có chăng tùy mỗi trái tim, mỗi đất trời rộng hẹp mà, cảm nhận, và diễn dịch.

“Tấm gương và kẻ soi chưa bao giờ là hai mặt của một đồng tiền sống, chết. Phải chi em được kẻ soi gương.”

“Sự hoán đổi vị trí có chăng, chỉ giúp ta thay đổi cách nhìn. Mọi hoán đổi không hề mang ý nghĩa đổi thay một định mệnh,” người đàn ông đáp.

“Cách gì, kẻ soi gương vẫn có thể đi khỏi, trong khi tấm gương còn đó. Đời sống vẫn in hình, vẫn lưu vết; như con sông chảy xuôi mà, vẫn mang trong nó, mọi dáng trời buồn vui/ thời tiết trắc nết/ cặn bã nhổ/ đổ…Nó không thể phủ nhận những gì đã đi qua/ mặt gương/ tâm hồn/ thân xác. Chưa kể…’

“…”

“Chưa kể kẻ lấm bùn dù, hoàn cảnh nào, đều đã tự tước bỏ khỏi họ, quyền lớn tiếng nói tới những gì thuộc về thanh sạch, thuộc về cao quý.”

“Tình yêu, tình yêu thật sự luôn làm tâm hồn ta thơm tho và lớn lao biết là chừng nào…”

“Cũng ti tiện, cũng bẩn thỉu biết là chừng nào, khi tình yêu chỉ mang lại cho ta những hẻm cụt.”

Người đàn ông hiểu, anh đang cuối đường. Anh đang hẻm cụt. Anh hiểu, mới thanh sạch, mới bao dung, mới đại lượng dễ dàng, có được. Anh hiểu tấm gương/ dòng sông/ đêm, như cô gái điếc, câm lỡ thì trong nỗi ngậm ngùi lở loát. Anh hiêu, cơn mưa, điều chờ đợi cuối cùng, ngột ngạt nơi bạn.

“ Cách gì, ta cũng phải sống. Đời sống chỉ nửa phần thuộc ta, nửa phần thuộc kẻ khác.”

“Vâng”

Người đàn bà đáp với tất cả khả năng ngọt ngào, êm ái và thần phục, nhẫn nhục cố hữu. Cái ngọt ngào của ớp đường bọc ngoài viên thuốc độc. Cái êm ái, dịu dàng khâu kín mặt phng83 bên trên của những con sóng ngầm, lẫm lẫm.

“Dù chỉ nửa phần, tại sao em lại không được sống cái nửa phần của riêng đó? Hay em không phải là một con người? hay chỉ A., chỉ B., chỉ C., mới là con người? Và những người kia, không chỉ sống cái nửa phần của họ. Họ sống, toàn thể.”

“Hoặc không gì cả.”

“Hay tất cả! cũng chỉ là lối nói. Đời sống như tấm gương. Một miểng vỡ ra, tự nó trở thành tấm khác. Tự nó thâu nhận hết mọi thời tiết…”

Sự thực, mỗi đời sống đều được làm thành, không phải một mà, nhiều nửa mất đi, của kẻ khác.

Gió tháp lại những đôi chân cho biển; và, trăng hăm hở lia thêm những miếng kim khí mầu vàng, liếc qua liếc lại dưới thân sóng. Người đàn ông buột miệng, lo sợ:

“Mưa mất!”




Nhìn tôi đi: em sẽ hiểu/ mưa /về



Ai dám bảo thịt da không biết khóc?

Nhìn tôi đi: em sẽ hiểu/ mưa /về

                              Thơ Du Tử Lê


Parking

Thuấn dấu đôi tay trong chiếc áo khoác ngắn, chẽn, phong phanh che một phần lưng trần và, bụng. Trông gần, tuồng có dòng sữa chảy trên khuôn mặt trẻ thơ/ ngấn cổ gió/ gò ngực nắng của nàng. Dòng sữa đã đặc khô, còn mang lại cho người nhìn cảm tưởng ướt rượt, ham muốn ném mình vào cuộc phiêu lưu, đa phần bất trắc. Thuấn đứng tựa cột. Đôi lá mi dài kẻ hai đường vòng cung/ chênh vênh/ nỗi buồn/ cúi thấp. Gió, vào từ biển, chỉ đủ sức đu đưa bức màn mưa, như chiếc võng lụa xanh, treo ngược. Một đầu máng nơi chụp đèn cao. Đầu kia, nhúng sâu trong vụng nước. Đêm theo những chiếc xe muộn, lui cui tìm chỗ đậu.

Thuấn không chờ đợi,…”

Không chắc lắm, tôi lờ mờ hiểu Thuấn than phiền chuyện gì. Mới đây thôi, chỉ năm, mười phút trước, khi tôi bảo Thuấn, ra ngoài với anh, Nguyễn đã chửi thề:

“Đ.M. thằng Đống khốn nạn quá. Tao bảo nó đừng nói gì hết. Ngày mai, nó muốn nói gì thì nói. Để cho cuộc vui được trọn vẹn. Dù sao người ta cũng ở xa tới. Nó không chịu. Nó  bảo thằng Dụy cũng yêu cầu chừng đó. Nó đã từ chối. Nó nói, thà nó không biết, biết phải nói…Đ.M. nó làm như con Thuấn là vợ nó hay mẹ nó không bằng…”

Nguyễn mở đầu cho mỗi ý tưởng, mỗi câu nói bằng một tiếng chửi thề đầy giận dữ và, cũng đầy…hồn nhiên. Nguyễn làm như thể Đống đang nghe, hay đó là giá tôi phải trả cho hành động nhầm lẫn trước đây của mình.

Tôi hiểu, cách gì Thuấn cũng không chờ đợi, được chào đón bởi vẻ bồn chồn của Trần; hấp tấp, ồn ào của Nguyễn; lính quýnh, ấp úng của tôi, nơi bước chân thứ nhất, xuống từ chiếc taxi thuê tại phi trường. Những chộn rộn của đám bạn tôi (một cách quá lố: nồng nhiệt săn đón/ ngượngnghịu ngó lơ/ trân trối nhìn thẳng hoặc lén.) Chung quanh, ngọn đèn đỏ nhấp nháy, lưu ý Thuấn đề phòng, cẩn thận: Đoạn đường trước mặt

Tôi hiểu, cách gì Thuấn cũng không chờ đợi,được chào đón bởi những hơi thở chua, ói mùi rượu (mặc cảm ghen tuông/ thèm thuồng) nơi Đống. Người đàn ông riêng Thuấn gọi “Anh Tư” (mang ý nghĩa thân mật hiểu ruộng rãi, pha chút nôm na, riễu cợt.) Thuấn kể, gặp em lần đầu tiên, tay chân anh Tư đã…tía lia, lung tung như miệng ảnh vậy. Thuấn phải nhắc chừng ảnh:

“Thuấn không thích như vậy. Anh Tư không phải là mẫu người của Thuấn. Còn muốn nói chuyện với Thuấn, anh Tư phải khác.”

Thuấn tưởng ảnh giận. Thuấn tưởng ảnh thôi, không tìm nữa. Ai ngờ, vẫn. 

Ảnh bảo:

“Cong nhỏ này đúng là em tui. Thằng nào đụng dzô em tui, thằng đó phải bước qua xác tui…”

Nói nào ngay, chữ ‘con” có “g” là chữ của Thuấn. Như tất cả những chữ không có “g” Thuấn đều thêm “g” (tựa cho …rõ nghĩa.)

Thuấn bảo, sau khi Thuấn xác nhận chuyện riêng giữa tôi và nàng, Đống hiểu:

“Thấy kiểu hai đứa by nhìn nhau, anh Tư biết liền hà.”

Thuấn hỏi ảnh biết những gì? Ảnh đáp:

“Thì anh biết em mê cái thằng chết bầm đó. Chừng nào hết mê nó, cho anh hay. “Đồ con(g) gái ngu. Anh Tư ngon(g) hơn(g) không ưng. Ưng đồ mắc dịch…”

Đống đùa hay thật? 

Tôi ngửi được mùi ghen tuông. Tôi hiểu Đống muốn “mua thời gian” tron toan tính mai phục, bậm môi chờ ngày Thuấn sập bẫy. 

Trường hợp khác, có thể Đống đúng. Với Thuấn, Đống sai. Mọi ra vẻ cao thượng (bền bỉ) nuốt nhục (hớn hở) của người đàn ông, chỉ kêu gọi được niềm thương hại (và khinh bỉ) nơi những người nữ có cá tính mạnh.

Không cùng loại, người ta dễ đánh hơi được mùi khác lạ.

Tôi hiểu, cách gì Thuấn cũng không chờ đợi, được chào đón bởi cơn giông, trận bão lẩn khuất đâu đó. Sự hiện diện của một đe dọa. Nguy cơ bùng nổ một hiện diện (bất ngờ?) – Kẻ khác. Dù, tình yêu với Thuấn, cũng tựa một tôn giáo. Khó ai có thể lay chuyển “đức tin” nơi tôn giáo tình yêu của nàng.

“Anh chẳng hơn gì.”

Tôi nói. Lòng lạnh tanh. Tuồng tiếng nói và, những ngón tay xiết, miết tóc, mặt, gáy, ngực Thuấn, (như miết, xiết cùng lúc nỗi ê chề/ ngọn lửa hèn hạ/ bất lực gian dối/…) là những đồng bạc giả.

Không có thật: Buổi tối/ mưa/ gió/ hàng cây móng bò (bao quanh khu đất trống, bên kia lộ. Khu đất như chiếc lưỡi thô kệch le ra từ miệng rừng gỗ lác.) 

Không có thật: ước ao một chỗ nằm/ nhắm mắt/ chờ bão tới. Cơn lốc mang tôi đi. 

Tiếng la ó/ chân chạy/ bàn, ghế ngã đổ/ ly. Tách đôi vỡ/…trả tôi về chỗ đứng chói lọi nhất. Chỗ đứng trước trăm nghìn con mắt thù hận/ xót thương/ nguyền rủa/ hả hê/ mãn nguyện… Và, chiếc còng, khóa tay kẻ phạm tội. Tôi muốn nằm, muốn chìm sâu trong chuỗi, chuỗi tiếng còi xe cứu hỏa/ ambulance.  

Cấp cứu. Cấp cứu. Cấp cứu. Đời sống gần hai mươi năm qua, vây bủa, ngày đêm tôi: Tiếng còi cấp cứu.

Gió, vào từ biển, chỉ đủ sức đu đưa bức màn mưa, như chiếc võng lụa xanh, treo ngược. Một đầu máng nơi chụp đèn cao. Đầu kia nhúng sâu trong vụng nước.

Những ngày trở lại thành phố Da Đỏ, trở lại nơi chốn sượng, rách niềm hổ ngươi, sâu; nỗi nhục nhã, kín (có T. bên cạnh;) nhiều lúc tôi tự hỏi: Mày chờ đợi gì? Tôi không thể (không dám) trả lời. Tôi đòi hỏi gì nơi Thuấn? Khi nàng hiện ra, trong hình ảnh một Lara. Tuyệt vọng. Bbăng băng qua cánh dồng (tulip). Khi, quá khứ rác rến (những săn đuổi nhọc nhằn) là, con tầu tốc hành phía trước; hiện tại (phân lập) cắt rời sau lưng:

“Behind me is the noise of pursuit, and there is no way out…” (Pasternak)

Thuấn (hay tôi) cùng đường? Mỗi chúng ta như con cá mắc cạn trong mảnh lưới ham hố, do tay mình quăng lấy. Một cách thẳng thắn, liệu tôi chia xẻ gì được, những thảm kịch của Thuấn? Khi chiếc bóng đeo theo Thuấn, không là bóng nàng. Bóng “Ông Chủ.” Chữ Thuấn dành gọi Khang. Ông già khó tính. 

Chiếc bóng, nàng chọn máng đời, treo thân sau ba ngày (gọi là) suy nghĩ. 

Ba ngày, Thuấn nghe phân giải, thiệt hơn bằng vào kinh nghiệm (bản thân) của mẹ. Đại loại, bà bảo:

“Chỉ tiền bạc mới làm nên hạnh phúc. Ngoại giả, láo tất.” 

Hoặc:

“Tình yêu đến sau, là tình yêu chắc nhất. Tới sớm, tổ đổ vỡ lẹ.”

Bà bồi thêm, đại ý: Cuộc đời đã chặt bỏ tay chân, mắt mũi bà. Là con gái lớn, Thuấn có hy sinh chút (chưa chắc à,) mà, cứu được đàn em. Cứu được bầy em là cho lại bà đầy đủ tay chân, mắt mũi. Có thể bà không trả được ơn Thuấn, nhưng, 

Mai này Chúa trả công hậu cho con.

 Bà nói xưng xưng (như thể bà đã xin và, đã được sự chấp thuận của Chúa.) Thuấn nghe những lời đó, năm mười sáu tuổi.

Người đàn ông, sau đêm tân hôn, ở vùng kinh tế mới, Thuấn ngạc nhiên, chua xót hỏi: 

“Lỡ mai ra đướng, liệu mình có nhận ra ông ấy?”

Tôi chờ đợi gì? Tôi làm được gì cho bảy năm Thuấn kẹt lại, sau hai năm chung sống, Khang vượt biên. Thành công. Những lá thư gửi về, nghịch chiều dầy tháng, năm xa cách. Không phải Khang có người khác. Không phải Khang chơi trò “Ú tim, “ để khi gặp lại, tình yêu tăng cấp cố nhân. Hố thẳm tuổi tác. Mặc cảm khác biệt nếp sống/ thói quen/ tâm hồn/ suy nghĩ/ biểu lộ, đưa Khang tới quyết định không muốn bảo lãnh. Khang tâm sự với bạn, sợ không giữ được lâu, nếu đưa Thuấn đi. Chung quanh Khang, nóng rát nhiều bài học phản bội, sống.

Lúc đầu, cô bé trường Tây, xuất hiện giữa vùng kinh tế mới, là con ngọc thố lạc loài, ngơ ngác giữa bầy chồn cáo. Mọi người nâng niu, lập kế chiếm hữu. Khi thành của riêng, ngọc thố bị lột da, (để không còn là ngọc thố!) Tự nó, mặc nhiên, sinh đẻ những phức tạp, khó khăn cho đám gia súc. 

Ngược lại, Thuấn tựa mũi tên được cấu tạo bằng những nhân danh to lớn: hy sinh/ cứu em/ cứu mẹ…lao mình vào những vùng trời, giải đất đậm, đặc lửa, gai, (không miếng trời xanh (xám) cho trái tim, hơi thở, mơ mộng còn non, chát của nàng.)

Bảy năm buôn lậu hàng chuyến, bất cứ thứ gì vùng kinh tế mới cần. Từ viên thuốc cảm, tấm lá gói bánh, tới những bịch xi măng, đồng, nhuôm, sắt vụn…Những đêm ngủ giữa rừng, những chiều leo núi trốn công an, nằm, bò hỗn độn cùng dân buôn lậu, (đa số giang hồ tứ chiến,) ngó lại mình, nhớ tới con, nghĩ tới bầy em, Thuấn hỏi, còn đợi chờ gì chưa thẩy, ném cái thân bầm dập xuống giếng sâu, vực thẳm? 

Đợi được “trả công hậu” ư? Công hậu quá xa/ địa ngục kế cận. Thực tế cơm áo thổi tắt tàn nhẫn ngọn lửa leo lét hình ảnh người nam, bước ra từ văn chương/ đi tới tứ đời thật/ từ bài thơ nơi tuổi trẻ, thứ nhất: “ Khi bắt đầu của những năm ba mươi.” Khởi nguồn kia, mặt nào khác, đã thắp lên trong Thuấn, những gọi kêu mơ hồ. Những tiếng rền âm âm, khấp khểnh niềm hy vọng gập ghềnh cuối kiếp.

Bắt đầu của ba mươi/ em dại khờ bước tới/ như con sóc lần đầu tiên bỏ núi/ như con chim ngu ngốc bỏ rừng/ em bước vào đời ta/ trùng trùng đau đớn/ nhưng yêu dấu/ bởi yêu em/ ta sống nốt đời mình/ trong hy vọng với vô vàn tuyệt vọng/ trong thảm thiết/ với tận cùng mừng tủi/ khi chúng ta tìm nhau/ buổi trưa rưng rưng nắng vàng khung kính phẳng/ đời thinh lặng đi qua/ ta ngậm ngùi ngắm nghía/ cảm ơn em yêu dấu/ cảm ơn sự nhắc nhở/…”

Lậy Chúa, cho con một lần gặp được người đó, dẫu muộn màng, oan nghiệt, nghiệt. 

Lậy Chúa, cho con gặp, một lần. Cho con nói được với chàng, một lần, rằng, thơ chàng đã tháp cho con đôi cánh lớn. Nhưng, thơ chàng cũng không quên cột vào chân con, chiếc hài đen bảy dặm. Để con đi, cùng kiệt ngõ lầm, than.

Đợi chờ gì, nơi Thuấn? Khi chính tôi, không mang nổi bóng mình. Khi Thuấn không thể chảy, dù rất mong, một giọt lệ, giữa đoàn tụ sinh, tử. Lúc Thuấn bồng con bước xuống phi cơ. Lúc Thuấn thấy Khang kiễng chân, nghển cổ giữa đám Việt Nam tị nạn lố nhố, phi trường…

Tôi chờ đợi gì, nơi Thuấn? Khi đêm quê người đầu tiên, nằm ôm con, co quắp trên thảm nhà một người bạn mới, Thuấn nhủ, phải đứng trên đôi chân mình. Phải sống còn bằng những bắp thịt (mệt mỏi,) những sợi gân (khốn kiếp.) Tôi hiểu (dù không chắc lắm,) vòng hoa Thuấn nhận được nơi bước chân vừa rời bỏ quê hương, là, vòng hoa bẽ bàng/ thân phận. 

Tôi hiểu, sau đó, Thuấn thấy nàng lớn lao biết bao: Tự nuôi mình, nuôi con. 

Tôi cũng hiểu, Khang thấy mình nhỏ bé dường nào: Thu rút thân hình, làm con cú đêm, ngày nấ[ góc nhà, lắng nghe, rình rập, phỏng đoán mọi di chuyển, tiếng động. Thậm chí hơi thở/ giọng nói/ giao thiệp/ của Thuấn, trước mặt/ sau lưng Khang. 

Tôi làm gì được cho Thuấn, với những cú đấm, những lời thô bỉ, Khang dành “tặng” nàng, Những “con đĩ thập thành,” “đồ gái lang chạ.” Những “lãng mạn mê trai,” “Xéo ngay khỏi nhà tao…” (Khang trả tiền nhà. Thuấn trả mọi thứ còn lại: phân chia rạch ròi!) 

Những tiếng gầm thét (cũng rạch ròi) chạy dọc đôi hàng phố. Những xỉ nhục (cũng rạch ròi) phản ánh bất lực. Những đòi hỏi xác thịt bị từ chối. 

Những ân ái: “Tởm lợm choe choét, bết, bệt thân thể, ám ảnh nhiều ngày không tan,” Thuấn tâm sự

Tôi làm gì được cho Thuấn? Khi cả đời Khang không cầm một cuốn sách. Thù hận từng bài thơ. Dị ứng mọi bản nhạc…

Tôi làm được gì cho Thuấn? Khi một con mắt Thuấn bầm, nát, sưng to, múp lên như quả trứng lộn tròng. Chỉ bởi nàng không chịu trả lời cật vấn của Khang về những số điện thoại lạ, xuất hiện nhiều lần, trong hóa đơn tính tiền hàng tháng. Tôi làm được gì cho Thuấn, mấy năm qua, trước mỗi giấc ngủ, nàng phải khóa cửa, bên trong, tấn thêm đồ đạc, biến phòng ngủ thành một pháo đài cố thủ và, “ông chủ” như con cáo hậm hực, lồng lộn quanh một chuồng gà kiên cố.

Tôi làm được gì cho Thuấn? Khi ngay tôi, cũng có những ngày, đêm tự thoa, xức dầu cho vết thương mình, sau mỗi cơn điên của Gòn.

Tội nghiệp thịt da ta. Chúng từng khóc mà, nào ai hay biết!!!

Gió, vào từ biển, chỉ đủ sức đu đưa bức màn mưa, như chiếc võng lụa, treo ngược. Một đầu máng nơi chụp đèn cao. Đầu kia, nhúng sâu trong vụng nước.

Những ngày trở lại thành phố da đỏ, nơi sượng, rách niềm hổ ngươi, sâu; nỗi nhục nhã, kín (có T. bên cạnh;) tôi hỏi: Mày đợi chờ gì? Tôi không thể (không dám) trả lời. 

Tôi đợi chờ gì nơi Hân, những đêm mưa xập, xòe trời đất. Trong bóng tối căn phòng, tầng lầu hai, (hay ba,) chung chư Parkview? Hân di chuyển khó khăn (đôi chân tật nguyền sau tai nạn,) làm cho tôi ly cà phê. Đôi mắt mái chèo/ thuyền khuya, khua động mặt nước tù hãm khát khao tình dục. Hân vẽ trong trí tưởng phong phú (hay nghèo nàn) của nàng: cuộc chạy trốn (tuyệt vời) xuất phát từ nơi: Có hai kẻ tự cho được sinh ra để thuộc về nhau (mà không thể nào kẻ khác?) Hân trốn chạy Bảo.

Người đàn ông, theo nàng, chỉ biết đem bắp thịt, đầu óc mụ mẫm. Tối thui, thay thế những đòi hỏi lãng mạn, nâng niu., ve vuốt. Người đàn ông trốn chạy chuyện chăn gối bằng những việc làm bánh, sửa xe, thay ống nước, chạy giây điện…trong những giờ giấc, đáng lý phải vào phòng ngủ, lên giường…với vợ. Hoặc (vẫn theo Hân,) bày đặt chuyện nhớ nhà, nhớ nước, ngồi lì nhà bếp…Gầm gừ những xâu bia lon. Rổn rảng cụng chúng, cùng những tên Mễ Tây Cơ (không nhà cửa.) Bảo mượn cớ say, ngủ vùi trên sofa, chối từ…”bổn phận.” Còn tôi, kẻ trốn chạy Gòn.

Chúng tôi sẽ mang theo những chiều đông, trời tối sớm? Hân bỏ tiệm bánh, trở về. Lên lầu, trong bóng tối nhớp nháp hơi nước, sau cánh cửa khép vội, tôi cúi hôn Hân với tất cả cố gắng say đắm, chen lẫn thương hại, kích thích bởi tình cảm lén lút. 

Hân hình dung, chúng tôi lên chuyến tầu (tốc hành) tới một tiểu bang khác. 

Ở đó, bằng vào số vốn riêng của Hân, tôi được phép sống đời sống một ông hoàng (?) Hân, một bà chúa khả kính (?) (Tôi tin, hẳn đi chứ, khả năng kiếm tiền của Hân, vốn liếng Hân có. 

Ngay cả khi nếu tôi không muốn rời khỏi nơi này, không muốn bỏ Gòn, Hân cũng có thể mở một tiệm bánh khác, cho Gòn. Hân từng dụ Gòn ra tập việc nơi tiệm của Hân. Hân cũng đồng ý, mở cho Gòn một tiệm gì đó, thí dụ, bán đồ ăn nguội /  food to go.)

Chúng tôi sẽ mang theo những đêm tầng lầu hai (ba,) vào bên  trong những căn phòng bỏ trống, Hân: nhung lụa vuốt ve, lỗ mỗ hớn hở, sống lại nõn tươi thời thiếu nữ. 

Hân kể (như chưa từng) về những bài thơ nắn nót chép trong tập vở. Hình tài tử. những mẩu chuyện tình đẹp nhất thế kỷ…

Những thứ Hân đinh ninh, hết đời, chẳng được. Bây giờ Hân có tiền, có điều kiện, tại sao không? Phải rồi. tại sao không? 

Hân có quyền khát khao/ đòi hỏi/ tranh đấu cho chính nàng, một đời sống (tưởng tượng) mới, khi tuổi trẻ (ít ra với nàng,) chưa bước qua bờ khác. Chúng tôi sẽ đem theo tấm khăn trải giường, chiếc chăn dầy, Hân lấy từ nhà. Hân bảo (rất tiểu thuyết)

“Em có thể bỏ lại hết. Trừ hai thứ đó. Chứng tích tình yêu của em.”

“Và anh khi đó, là tấm thảm cho Hân trưng bày “chứng tích”?”

Hân đính chính:

“Không anh, làm sao có “chứng tích.” Không anh, em cũng không... Nói gì đến tấm drap. Nói gì đến chăn cũ.”

Tôi biết, tôi là nguyên nhân đem Hân trở lại những quen thuộc, cần thiết của một người nữ. Không chúng, sẽ chẳng có gì để phân biệt giống tính. Hân trong ghi nhận tôi, lần gặp đầu, là, người đàn-bà-đàn-ông. 

Quần jeans, áo thun, giầy bố, là Hân ở mọi nơi, mọi thời khắc. Lúc nào, tên vai nàng, cũng ve vẩy chiếc áo blouse trắng. Quen biết nhau ít lâu, Hân thành người khác.

Môi Hân, đã son tươi. Tóc Hân, đã tóc uốn. Thỉnh thoảng, Hân gắn thêm chiếc nơ lụa, tấm băng đô vàng, quén tóc. Hân bắt đầu xăm soi với những chiếc skirt, những chiếc chemise, áo lạnh, giầy, vớ.

Biến chuyển nơi Hân nhanh, mạnh, rõ tới không riêng Gòn, Bảo cũng nhận thấy. Một lần, gặp nhau nơi chiếc thùng rác chung, Bảo (vô tình/ cố ý) hỏi:

“Anh thấy hồi nầy bả diện hẳn ra?”

Tôi chột dạ, thăm dò, mé mé:

“Thiệt vậy sao?” 

Bảo gõ gõ cho rác sót, rơi nốt, nói lớn:

“Bộ không phải anh khen bả, ăn mặc coi bộ càng ngày càn bảnh hơn?”

Tôi tá hỏa, nhớ: Không hề. Chưa bao giờ tôi nói một điều gì với Hân, tương tự.Nếu có, chỉ là những chọc ghẹo vui vui, cho có, như: “Cô sinh viên nào đây?” Hay “bà chủ vừa chứ nhá…”

“Mà bả diện vô coi cũng đặng lắm anh.”

Bảo kết luận với nụ cười mãn nguyện, như thể vừa khám phá được điều thú vị. Gặp Hân, tôi hỏi điều nghe được. Hân thản nhiên, vênh mặt:

“Ai biểu anh không khen em chi. Nếu anh khen, em sẽ dấu cho riêng em, mắc mớ gì phải khoe ra?”

Nàng có lý. Tôi hiểu, vì sao, Hân luôn miệng hỏi mắt, tóc nàng đẹp không? Áo, quần, giầy dép nàng …đẹp không? (Chưa bao giờ Hân hỏi quan điểm tôi về thân hình nàng.) Nếu tôi chậm trả lời, Hân sẽ nhắc ngày xưa mắt, mũi, môi, miệng nàng đẹp…hơn nhiều…(Hân chân thành, tự tin và, hãnh diện, đương nhiên.)

Chỉ phụ nữ mới có lòng thủy chung, bởi trong họ vốn sẵn mầm phản bội.

Gió, vào từ biển, chỉ đủ sức đu đưa bức màn mưa, như chiếc võng lụa xanh, treo ngược. Một đầu máng nơi chụp đèn trên cao. Đầu kia, nhúng sâu trong vụng nước.

Thuấn không chờ đợi. Anh Tư. 

“Thuấn không ngờ…” Thuấn nói. 

Mỗi đứa tiếp tục đuổi theo những ý nghĩ của mình, dù từng lời nói ra, rất mong (tình cờ) gặp được ý nghĩ đứa kia, trên đường tìm kiếm. Có thể Thuấn khó bước khỏi trạng thái căng thẳng như trái bong thừa hơi, muốn nổ. Tôi không muốn nghĩ tới Đống. Đã lâu, tôi nhìn Đống xa lạ, như chưa hề quen biết. Tôi từng thoát được Đống, như thoát lìa điều giả dối, thứ tình cảm bát nháo giữa miễn cưỡng/ mặc cảm/ tự ti/ nỗ lực chứng tỏ/ chạy trốn lầm lẫn/…Tôi không phủ nhận: Từng nhìn Đống như một tác phẩm, khám phá riêng của mình. Có thể nguyên nhân sâu xa của mọi chịu đựng, che đậy, lấp liếm nơi tôi, không vì Đống, mà, tự ái. Tôi không nhận tôi lầm.

Đống có thể là người tốt, nếu để Đống yên trong sân chơi của anh. Sân chơi của một thứ công tử Bạc Liêu lỡ bộ, quá mùa. Tôi cho mình có phần trách nhiệm không nhỏ, khi dẫn dắt Đống vào một sân chơi khác. Sân chơi, Đống không có vốn căn bản, cho cuộc chơi ấy. Mọi cố gắng sơn phết, đánh bóng, đẩy Đống ra sân, như một hảo thủ, hiếm, quý, đã tung Đống lên cao, quá cao. Đống bị ảo giác” thấy bóng mình to hơn hình thật.

Cuối cùng, Đống không thấy chính anh.

Thuấn từng thuật lại những lời nói xấu xa, tồi tệ Đống dành cho tôi, sau khi, giữa anh và Gòn xẩy ra chuyện đôi co, cãi vã. Tôi không nói một lời. Chỉ kinh ngạc tính đàn bà của anh. 

Đống không thể trút mọi hờn giận, tức tối Gòn, lên tôi, dù thời gian đó, Gòn là người đàn bà tôi đang chung sống. 

Tôi bảo anh, đại ý, chúng ta có thể thay nhiều người đàn bà, nhưng không thể xóa, bôi một tình bạn. Đống nhún vai:

“Tôi không biết. Tôi không thể tiếp tục chơi với Cang. Tôi già rồi. Tôi không muốn mua thêm phiền bực, những ngày cuối đời...”

Tôi gật đầu:

“Đồng ý. Vậy Đống có thể yên tâm về phần tôi.”

Tôi nghĩ Đống hiểu. 

Không lâu, tôi nhận được diện thoại của Thuấn, bảo, Đống kể với nàng không thiếu một chi tiết, về đời sống tôi riêng. Ngay những chuyện giữa hai người đàn ông… 

Đống tin, điều đó giúp Thuấn “tỉnh ngộ.” Thuấn sẽ kinh hoàng, khinh bỉ, rút lui khỏi cuộc tình (cứ y như không có tôi, Thuấn đã là của Đống.) Tôi trả lời:

“Anh không thấy cần thiết phải nói…”

Chẳng phải tôi cao thượng, hay hớm gì. Tôi chỉ muốn giữ lời: “Đống an tâm, về phần tôi,” vậy thôi.

“Dù thất vọng với tác phẩm của mình tới đâu, người ta cũng không thể chối bỏ nó. Người ta càng không thể nhổ nước miếng lên nó…”

Tôi nói. Thuấn đáp:

“Em hiểu.”

Dù đã lầm lẫn trong trường hợp Đống, tôi vẫn tin: Thuấn hiểu và không thấy cần hỏithêm về cái “hiểu” của Thuấn.

Tôi biết, tôi có tính lằng nhằng, không dứt khoát, rất đàn bà. Chỉ cần một lời nói dịu dàng, chỉ cần một tỏ lộ chân tình, tha thiết, tôi tin ngay, người đó. Thời còn C., có lần C. bảo:

Cang mà là phụ nữ, chắc không dưới mười lần chửa hoang…”

Trời đất. Gì mà dữ vậy? Sau mỗi lần lầm lỡ, tôi đều tự nhủ: Lần cuối. Nhưng không dám thử cộng xem mình đã bao lần, “tự nhủ.” 

Bây giờ, lúc này, cũng thế. Tôi không thấy cần thiết phải nói gì thêm. Ngao ngán? Thất vọng trong đời riêng, trong những cuộc tình, tôi đã thừa mứa. 

Đống có góp chút ít, cũng chẳng thay đổi gì. 

Tôi kết luận. Thuấn lắc đầu, phản đối. hay Thuấn cho, đó chỉ là cách tôi đánh tháo mình, khỏi câu chuyện? Thuấn bảo:

“Em có nói với anh Tư: Anh Tư đừng quên, anh Tư là anh của em. Chỉ có một trong hai điều cho anh Tư chọn: Nói. Thì nói cho rõ, cho hết. Hoặc, im lặng. Thì im luôn. Em không thích úp mở. Anh Tư là đàn ông kia mà…”

“Ảnh nói gì?”

“Không. Ảnh chỉ nhún vai. Ảnh biểu, ‘chúng nó cấm không cho anh nói’.”

Gió, vào từ biển, chỉ đủ sức đu đưa bức màn mưa, như chiếc võng lụa xanh, treo ngược. Đêm theo những chiếc xe muộn, lui cui vào bãi đậu.

“Em không thể hiểu,” tôi nhìn những sợi lông măng trên đồi ngực Thuấn, rung động. Dường chúng đà lậm sâu trong nỗi tức giận.

“Cũng vô lý, như sự hiện diện của em, tối nay, ở đây?”

Thuấn hỏi lại. 

Tôi đáp, không. Tôi không muốn nói vậy. Tôi bảo, tôi chỉ muốn hai đứa hãy mặc Đống với những điều làm thành anh ta. Như Đống, hiện là. Như Đống (chiếc bóng lớn của anh,) đang bồng bềnh cùng những cơn say và, những lẩn trốn chính nó.

“Mỗi chúng ta đều thủ sẵn trong túi mình một số mặt nạ. Tùy nơi chốn, hoàn cảnh, ta biết phải dùng chiếc mặt nạ nào.”

Tôi quá lời? Iim lặng, chờ phản ứng từ Thuấn.

Với thông minh, khả năng phản ứng nhanh, nhậy, những câu hỏi, như Thuấn đã từng hỏi ngược lại tôi:

“Anh thường đeo chiếc mặt nạ nào, trước Thuấn?” “Thuấn đã đeo chiếc mặt nạ nào, trước anh?” “Chiếc mặt nạ nào, ta có trong ngày qua?” Chiếc mặt nạ nào, ta sẽ dùng ngày sắp tới?”

Tôi nghĩ, nhiều phần Thuấn sẽ chất vấn, như đã. Nhưng không.

Một im lặng khác thường. 

Tựa tới giờ, Thuấn mới biết, đêm đã mang những chiếc xe muộn, Lui cui về bến đậu. Tựa tới giờ, Thuấn mới biết, mưa, và; gió, vào từ biển, (chỉ đủ sức đu đưa bức màn nước, như chiếc võng xanh, treo ngược. Một đầu máng nơi chụp đèn cao. Đầu kia, nhúng sâu trong vụng nước.)

Thuấn ngước mặt (không để nhìn tôi.) Sự mệt mỏi kéo xuôi, bôio bỏ mọi nét, vẻ xăng xái, trẻ thơ, nhí nhảnh, lí lắt… vốn lih họat nơi Thuấn. Tất cả đã lùi xa, như chưa từng hiện hữu. Trừ đôi mắt. 

Đôi mắt nhiều lần tôi chạm, gặp. Đôi mắt bập bùng lửa trại. Chắc nịch quyết liệt, những bàn chân đi tới. Đôi mắt, chính đôi mắt ôm, cuốn tôi, cào xé tôi, vắt cạn tôi. Chứ không hề là đôi tay/ làn môi/ mùi hương/ hơi thở/ tiếng kêu/ thân thể…Thuấn.

Chẳng biết do động lực nào, (đôi mắt/ ngọn lửa/ những bước chân/ mùi hương/ hơi mưa/ võng lụa/ xe muộn?) buộc, khiến tôi muốn ghì/ xiết/ hôn/ cắn Thuấn thô bạo, tựa sẽ cưỡng bức nàng, lập tức.

Thuấn nhắm mắt (không để tránh nhìn tôi) Tôi không tin Thuấn nhắm mắt vì tiếng thì thầm ra lệnh “nhắm mắt lại. Nhắm mắt lại, của tôi. 

Có dễ sự bất ngờ, niềm kinh hoàng nào đó, làm Thuấn tê liệt? (Cũng có thể, nàng đã nhừ chín trước đấy, bởi những ngọn lửa trại cháy hoài trong vô thức?)

Tôi dừng tay kịp lúc sắp vò, xé nàng. 

Giữa chúng ta, trong ta, luôn có kẻ khác hiện diện? Hay kẻ khác, là một mặt nạ quen thuộc?

Chung cư. 

Mưa tạnh. Gió, vào từ biển, có phần mạnh hơn, nhưng không còn chiếc võng lụa xanh nào treo ngược, cho nó đu dưa. Tôi bảo Thuấn:

“Ghé lại đây. Nhà một đứa em. Anh có chìa khóa phụ.”

Rút trong ví, chiếc chìa khóa sáng bóng, tôi mân mê (bảo kê cho lời nói của mình.) Thuấn vòng tay qua lưng tôi. Hai đứa, hơn một đôi tình nhân. Chúng tôi, đôi vợ chồng mới cưới. Thuấn là người khác. Giống như nàng mới bước ra, từ bồn tắm.

Cảm nhận có thể mất nhau, bất cứ lúc nào, giúp người ta tự nhiên, bạo dạn hơn.

Lúc đi qua hai trụ gạch thấp, làm dấu cửa vào cư xá, Thuấn dừng chân. Quay ngang. Chúng tôi ôm nhau (không cần biết đứa nào khởi sự trước vòng ôm; hay đứa nào, đòi hôn trước.) 

Tôi rất bằng lòng hành động luông tuồng của Thuấn. Nó tự nhiên, (thiên nhiên?) Như khi được ôm nhau. Được trút bỏ khỏi thân tâm, mọi nếp gấp của óc: Tên tuổi, gia thế, địa vị, vai trò, trách nhiệm xã hội mỗi đứa và, ngủ…

Chúng ta quen tiêu những đồng bạc giả nơi một đời sống không thật. Trong khi, chẳng tình yêu nào, có hàng quán, nơi chốn…nhận tiêu thụ giúp ta, loại bạc ấy.

Gió quẫy từng chập qua hai dẫy apartment đâu mặt giữa lối hẹp. Thuấn níu cánh tay tôi. Đi. Chúng tôi bỏ nhân loại ngoài lộ. Mặt nạ, kẻ khác, cũng ngoài lộ. Thế giới tuồng lớn bằng chiếc chìa khóa. Hoặc, cả nhân gian lọt trong lỗ khóa nhỏ tí. Tôi tra khóa vào ổ. Ánh sáng ấm (không cần củi lửa.) Căn phòng mở lớn, tựa thiên đàng thấy được, lần thứ nhất. Người đàn  bà xuất hiện. Không phải em tôi. Mà Hân. Hân đã mua (thuê lại) căn nhà? Tôi lùi bước. Thuấn nhanh nhẩu:

“ Ai vậy? Sao không vào anh?”

Tôi nói. 

“Chủ nhân khu apartment.” 

Thuấn hân hoan gật đầu chào người đàn bà nhỏ thó đứng chận cửa (chào một mannequin đúc bởi khuôn mẫu xấu.) 

Hân xững/ khô/ lạnh/ tượng:

“Đi, kẻo mưa lại đấy.”

Tôi đáp: 

“Chắc chắn.” 

Thuấn không nhận thấy một chỉ dấu, báo hiệu cơn mưa trở lại. Riêng tôi (và Hân?) thấy. 

Chúng tôi thấy cùng lúc: mưa/ mặt nạ và/ kẻ khác. Như những đồng bạc giả, trên môi tôi, hớn hở, mời.

(1983.)




Biển hoàn lương, vui

“hôn em môt nụ hôn hiền

“sông đi nước lớn, biển hoàn lương, vui.”

thơ dtl 


Vẫn, gió óng và, nắng mật trên những ngọn phong mùa thu, tháng mười một, San Jose, mái thấp.

Vẫn, đêm tung tăng gửi hơi mưa qua những vách ván, khung cửa sổ dán giấy báo và, những tảng sơn trắng keo, cục.

Vẫn, những khoảng diện tích bị  cắt nhỏ, bày biện lũ bàn ghế còn thơm mùi hộp giấy, lạc lõng, lỏng chỏng bên những góc tường nhện giăng. Tấm thảm sạch, trần nhà mới, nồng, ngái mùi vôi quết vội, khôn che dấu nỗi tạnh, vắng, đìu hiu của căn nhà thiếu hơi người.

Vẫn, bước chân cao, thấp, dáng đi nặng, chuyển dịch chậm, khó, tôi cùng mưa, cùng chiều và, những tầng tầng mây mù, mừng rỡ thấy lại bạn. thấy lại C., mỗi mỗi và, mãi mãi, là một thấy lại quen thuộc, bình an (đầy bất trắc!) Sinh kế, những eo xèo nhân thế có đẩy văng chúng tôi, mỗi đứa nào, giữa tôi và C., cũng là tiếng cười cũ. Tiếng cười không vẩn đục/ điều kiện hóa/ rách nát nhục nhằn chiều dài, thời gian, rác rến và, hôi thối chiều rộng không gian. Gặp lại, ở đâu, bắt đầu nào, giữa tôi và C., cũng là những tiếng cười có từ niên thiếu. Dù tóc, râu đã bạc, dù xương cốt, thịt da đã mủn, nhầu ê chề, vết tích, tôi vẫn nhìn thấy tôi trẻ thơ trong tiếng cười, trong ánh mắt C., như ngược lại.

Tôi thấy lại tôi buổi chiều Trần Hưng Đạo. Doạn đường thắp đều hai hàng cây sao; khúc nối chợ Hòa Bình và rạp cinéma Oscar.

Tôi thấy lại tôi, buổi tối, con đường Nguyễn Văn Thoại, quán cà phê Năm Đường, ngã ba. Những ly cà phê đen, đá sủi bọt trắng, bà cụ của C. ngồi lần chuỗi hạt mân côi trong bóng tối. Những đồng tiền chắt mót, vét ra, đặt lên mặt gỗ xỉn, quán ông Tầu Già, C. đếm lại, coi có đủ cho tôi tô mì một vắt. Những sợi mì mốc ố (để quá ngày hay, ám khói bếp,) chỉ kịp lướt qua cổ họng tuôi, tuột hẫng nơi chiếc dạ dầy nhiều ngày ngán ngẩm thắt, bóp với nước lã. 

Tôi thấy lại tôi, ngôi chợ Trần Quốc Toản, về sáng. Những ngọn đèn tù mù, dăm vạt sáng hớ hênh rớt ngoài phên che. Tôi cháo húp vội. Chúng tôi ngồi thu mình, nép sát nhau, bên cạnh những tên tuổi dao búa lẫy lừng thời đó. Những mẫn xích lô, Kim Mập, Thành 33, Hải Nguyễn Kim…Những cô gái ăn sương. Những bông hoa rực, gắt của nhầu nhụa đêm phấn, son/ ngạt ngào/ tanh tưởi cá…Đó là những ngày tháng chúng tôi sung sướng (hãnh diện) được tham dự phần đời thật (kín bưng) của Tư Cóc – người bạn học dễ thương, hiền lành (như tên gọi trong lớp) Lê Trung Hiền.

Tôi thấy lại tôi, qua C., những ngày mưa Sài Gòn. Nước ngập kinh Da Bà Bầu. C. trốn nhà, lên căn gác lửng, nằm nhấm lạc khô, uống nước lu trừ cơm. Chúng tôi lấp đầy ống thời gian rỗng tuếch bằng những đăm đắm ngắm nhìn (chi li) toàn cảnh khu xóm. Những khuôn cửa (?) đã khiêm nhượng, rúm ró lại còn bị phân, rác, xác chết súc vật theo dòng nước đen tấn công một cách thô bạo, hằn học. Những ngày mưa lũ đó, ngồi với nhau, trên gác lửng, tôi nói với C., bao mơ mộng của mình. Tôi đọc cho C. nghe, những bài thơ viết trong bóng tối, viết dưới tàng sáng chập chờn của dăm mẩu nến, sót,. Những bài thơ viết thật nắn nót, gửi đi với tất cả tấm lòng, trái tim tha thiết, tới thiêng liêng, nghẹn, nhói của mình. Những bài thơ gửi các báo, hầu hết do C. cầm đi. Chúng tôi không đủ tiền mua nổi con tem…Và, cũng, hầu hết những trân trọng, những hy vọng của tôi, ngám tắt, không âm dội. Chẳng hiểu vì lòng thương bạn, hay, một lý di nào khác, C. luôn an ủi, khuyến khích tôi. C. bảo, đừng nản chí, C. khuyên, chớ ngã lòng. C. tiếp tục nghiêm chỉnh (một cách chịu đựng?) chân thành nghe tôi đọc những bài thơ mới, khác. Những bài thơ, mà, chỉ vài ngày sau, C. lại có trách nhiệm bỏ chúng vào hộp thư các tòa soạn. Lại trách nhiệm theo dõi số phận chúng. Canh báo ra, đọc cọp tại các sạp. và, lần nào, cuối cùng, kết quả C. mang vể cho tôi, cùng là tảng im lặng, khối tuyệt vọng, nuốt chỏng. Ròng rã như thế bao lâu, không biết. Chỉ nhớ, về sau, khỏi cần hỏi, chỉ cần nhìn mặt C., tôi hiểu số phận (tất nhiên) dành cho những-bài-thơ-thời-niên-thiếu-của-chúng-tôi. Tôi gọi đó là những bài thơ thời niên thiếu của chúng tôi bởi, nếu có một bài thơ được in trên báo, tôi thấy, dường C. sung sướng, hân hoan, hạnh phúc hơn tôi nhiều. Nhiều lắm kia! Ở những may mắn họa hiếm ấy, bao giờ C. cũng xoay tiền mọi cách, tự khao thưởng mỗi đứa một tô mì, một ly cà phê đá, lề đường. Không chạy ra tiền, C. và tôi cũng vào đạo một tiệm cà phê quen. Uống xong, cười cười…Cái “cười cười” của C., buộc chủ quán phải hiểu, chúng tôi đã đến bước đường liều. Tới đâu thì tới . Mặc. Chúng tôi không thể không tự “ăn mừng chiến thắng,” “ăn mừng thành công,” cái chiến thắng/ thành công/ tội nghiệp/ niên thiếu/ ngông nghênh/ lầm lũi. Những ngày tâm hồn, trái tim chúng tôi như gương, cẩn, trạm trăm, nghìn giấc mộng lớn.

Tôi thấy lại tôi qua C. Qua tiếng cười ha hả. Tiếng cười mang những mảnh vụn một thời niên thiếu ngông nghênh/ lầm lũi/ mù lòa, tung ném trên đỉnh những ngọn cây, thấu những ngọn cây, thấu những vòm trời quê người, để lập tức sau đó , chúng tôi lại nhận được những mảnh vụn thất lạc, ngơ ngác rơi phủ lên tâm hồn mình. Tôi hiểu, cách gì, chúng tôi cũng chỉ có thể lẩn tránh mình trong khoảnh khắc. Cái khoảnh khắc phù du, nhạt thếch; như tiếng cười cúng tôi, không đủ sức ném xa hơn những dòng mắt tối/ ngón tay khô nẻ biệt ly/ nhăn nhúm tàn, tạ.

Vẫn, cành thấp, nghiêng võng nháh vai tên những ngọn đèn gập mình, ngó xuống lối lá chạy quanh một công viên, buổi sáng, tháng mười một, mưa trên Đường Mười Ba. Mưa trên đường Mười Ba, không mang mùi hương thương yêu trong “Con đường thuốc lá” Của Nghiêu Đề và, Châu Giang, đêm lề đường San Diego, tối cũng mưa và, những đốm lửa bén ngót thịt da Sài Gòn, ký ức. Vẫn, căn phòng, những tấm mành, thõng, mỏi thả kín khung cửa sổ se thắt, tạo thành một cắt lìa (hai lần chấn song,) với nhịp đời bên ngoài hồi, hả.

Vẫn, mưa trên những cánh tay phong phỏng lửa, và những chấm vàng điểm xuyết nền trời xám, sớm mai, san Jose, công viên, một góc. Tôi không thấy một gần gũi nào với “ những chiếc là vàng rơi trên vai những pho tượng trắng” như đoạn văn ngọt (chua táo dầm Hà Nội,) mùa thu của Anatole France. Đoản văn, thơ ấu, bài học thuộc lòng. Tôi chỉ thấy những người già, những kẻ đã bị xô dạt bên lề dòng sống của xã hội này (như chúng tôi sắp bị xô dạt,) co ro, bách bộ dưới mưa và, những tàng phong, cháy.

Vẫn, C. trương phình nỗi quạnh hiu trên mặt ghế trũng, điếu thuốc không đốt trên môi. Cơn ho buổi sáng. Tiếng dép lạt xạt, càh miết bậc thang, bẹt. Vẫn tôi, thấy nơi chốn này, ngôi nhà này, chỗ ngồi này, không phải của C. Tôi không thể minh thị, chỗ ngồi nào, ngôi nhà nào của bạn. Tôi cũng, không thể hình dung nó. Nhưng, tôi biết, một cách tỉnh táo, chỗ tôi đang ngồi đây, căn phòng đêm qua tôi đã nằm với T., tấm drap trải giường , vạt chăn C. muoj75 về, rõ ràng, vẫn không là nơi của C., nơi của chúng tôi. Cả ngôi nhà trước đấy, ở đường Williams, của C., nơi tôi chọn ở lại, hai đêm liên tiếp, hai đêm không chăn gối, không mền ciếu. Hai đêm tôi co quắp người trong giấy bào, tìm hơi ấm…;cũng không phải, chỗ của C.

Tôi không thể minh thị, ngôi nhà nào, chỗ ngồi nào của C., của tôi, của T., của bằng hữu tôi…Nhưng minh bạch: không phải chỗ ngồi này, ngôi nhà này. Chỗ của C., ngôi nhà của chugn1 tôi, chỉ có thể, ở một chốn nào đó, nơi quê hương, hoặc nữa, một nơi nào, ngoài trái đất.

Vẫn, mưa, một chào đón thân thiết, như lớp phấn xanh bủng thấm, chậm trên dung nhan San Jose, buổi chiều, tháng mười một; khi, Văn Thanh, mở cửa bước vào, từ San Francisco, cũ kỹ. Một San Fran., của ngày tháng giữa và cuối 1969. Nơi tôi bắt đầu những là thư gửi về cho T.C., từ bên ngoài đất nước. Đó là những chạm mặt đầu tiên với phi trường Travis/ trạm Greyhound nằm trên đường Market, với sương mù Golden Gate và, những miếng hot dog, tiếng kèn khuya, phong trào hippy mang những đóa hoa và, dấu hiệu hòa bình nằm, ngồi, ngủ vạ vật dưới những hiên, phố Cựu Kim Sơn. Đó là nơi mười mấy năm sau, 1982, tôi trở lại , với T.C., thăm người bạn gái. Ngôi nhà của bố mẹ P., trên một ngọn đồi, Daly City, ngó xuống triền dốc, một cạnh San Fran. Buổi tối, đi với T.C., trên đường Market, lúc qua trạm Greyhoune, tôi kể ngày xưa, trên đoạn đường này, trong nhà ga này, những lá thư tình thứ nhất, gửi từ bên này một đại dương, được viết. Thuở đó, 1982, tôi có ao ước mang T.C. trở lại ngôi trường, nơi tôi viết những bài thơ đầu, mang đậm hình ảnh rừng phong, cây phong, là phong và những mảng rừng cháy.

Cây phong đã đỏ lá vàng

Phải đêm đang quấn khăn quàng đợi tôi

Bây giờ, hơn hai mươi năm qua. Bây giờ, những lá thư tình, thời thanh niên, như những bài thơ, thời niên thiếu, chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm rực rỡ hay ngậm ngùi, thì, mùa thu vẫn đi qua, như nó hằng qua, trở lại tren những rừng phong ở Indianapolis, San Francisco, San Jose, Orange County, Montreao, Toronto…Ở. Ở. Và ở…

Bây giờ, hơn hai mươi năm qua, với mười chín năm luân lạc, những cây phong ven đường Mười Ba. Những cây phong một góc công viên trên đường Mười Ba và, Santa Clara, chào đón Hoài Việt/ Trần Quảng Nam/ Đỗ Vẫn Trọn/ Trịnh Nam Sơn/ Văn Thanh…,như tôi và T., chào đón họ bằng tấm lòng “đã đỏ lá vàng,” như tôi và C., chào đón họ, bằng trái tim “đã đỏ lá xanh.” Chào đón những ngọn triều, những đợt sóng văn chương và nghệ thuật, rất mới mẻ, rất sung sức, rất cường tráng, cho một văn học Việt Nam, lưu vong, định hình. Ngồi với họ, ngắm nhìn họ, tôi muốn nhắc C., tôi muốn kể với T., những năm tháng tôi, quê nhà, bắt đầu. Tôi muốn kể T. nghe, con đường Trần Hưng Đạo. Ngôi nhà trong vào lòng đường. Nơi hai hàng cây sao ắp đầy hoa sao, ngày gió lớn. Nơi bậc thềm thiếu niên thứ nhất, tôi bước xuống thơ văn, vào hành trình tối tăm, bằn bằn. Tôi muốn kể T. nghe, con đường Nguyễn Văn Thoại, Chợ Lớn. Con đường dẫn tới rừng cao su Phú Thọ. Khu rừng, tôi nào tưởng được, sau này, lại là nơi chôn hai đứa con sinh đôi của tôi và T.C. Đoạn đường xanh, đỏ những giải đèn chớp lóa, phấn son, sa đọa. Trong khi sâu hơn, chỉ năm mười thước, là khu nhà được đặt trên những cọc gỗ, sè sè ngang tầm kinh nước đen. Con kinh ăn ruồng bên trong, quanh năm lều bều phân người, xác thú và uế tạp phế thải.

Những ngôi nhà được nối nhau bằng ít miếng ván mục. Những ngôi nhà không số, chồng chéo, chằng đụp những kiếp người lúc nhúc, cặn, xơ xã hội. Nơi đó, cùng thiếu thời, tôi ngoi ngóp sống. Nơi đó, cùng thơ, tôi đọc cho C. nghe, như đọc thành tiếng nỗi ngậm ngùi, tuyệt vọng của thiếu thời mình.

Bây giờ, quá nửa đời, âu cũng may mắn, cũng hạnh phúc cho tôi và C., khi chúng tôi còn nghe được tiếng cười mang âm vang niên thiếu, vỡ vụn giữa quê người. Âu cũng còn may mắn, còn hạnh phúc cho tôi và C., khi chúng tôi còn tìm được trong mắt nhau, nỗi nhục nhằn ngày qua, niềm hiu quạnh ngày tới. Cũng còn là may mắn cho chúng tôi, trong căn phòng ngổn ngang , lủng lẳng bịch rác và, khói thuốc, máy móc và, tấm lòng, trái tim Trần Quảng Nam, với mười tình khúc của Khang Thụy, phổ từ mười bài thơ cũ, một thời quê nhà, của tôi.

Tôi không biết duyên nghiệp hay duyên khởi nào, đã đem rung động của âm giai, mang tên Khang Thụy vào giữa những bài thơ thời tuổi trẻ kia. Chỉ hiểu, khi Sài Gòn thọ nạn; tôi vô hồn xuống tầu. T.C., ở lại, với mọi ngả đường phố nuôi con. T. ở lại, điên điên, dại dại; C. vào tù; thì, Khang Thụy chưa bước qua tuổi mười lăm. Khang Thụy chưa hề, một đêm Trần Quốc Toản/ sáng Ngã Bảy/ trưa Thị Nghè/ tối xa lộ. Khang Thụy chưa hề, Sài Goàn, cuối 50, Chợ Lớn, 60. Khang Thụy chưa hề Huế/ Pleiku/ Quảng Trị/ Mậu Thân 68/ mùa hè 72…Vậy mà. Vậy mà. Thế đó hôm nay. Thế đó T.C. Thế đó T. Thế đó, những trôi, lăn. Những xa lạ từ thơ tôi, xa lạ, tới. Những lãng quên từ thơ tôi, lãng quên, đi. Những. Những. Những. Và những, những.

Sớm mai, tôi vẫn không tìm thấy một tương quan, một gần gũi nào, giữa công viên Đường Mười Ba, San Jose, ngôi nhà C., đang ở, và, những chiếc lá vàng rơi trên vai những pho tượng trắng của Anatole France; đoản văn thơ ấu, phải học thuộc lòng.

Sớm nay. Khi C., tất tả bước vào mưa, lớp phấn xanh, bủng thoa lợt trên dung nhan San Jose, tháng mười một; cùng với T., tôi chỉ thấy những nhánh vai phong đỏ, che nghiêng xuống hàng đèn gập mình trên lối lá. Tôi chỉ thấy thánh thót đâu đó, trên nền xám, sớm mai San Jose, tấm lòng ở với văn chương, ở với Việt Nam, bên ngoài đất nước của Hoài Việt/ Văn Thanh/ Hoàng Mộng Thu/ và, của…trăm, nghìn Việt Nam mới đã và, đang lên đường, đi về phía lưu vong, văn học. Tôi chỉ thấy thấp thoáng đâu đó, tiếng cười T., tiếng cười cũng giòn, cũng vỡ vụn trên cao (và hẳn nhiên, cũng sẽ rơi xuống chính tâm hồn tôi) góp với tiếng cười niên thiếu, của C., tuổi trẻ của T.C., làm thành một may mắn, một hạnh phúc nhỏ nhoi, đẫu tội nghiệp. Âu cũng…

Âu cũng…,phải không bằng hữu tôi và, tôi, dù chỉ có thể có được ngôi nhà, chỗ ngồi bên ngoài trái đất.  



Phía Biển Động 

 Người đàn ông chỉ tay, ra dấu cho người con gái. Họ bước lại, cùng ngồi xuống băng ghế đá. Đêm trên đầu. Ánh đèn đường từ hè bên kia, hắt sang, thả tàn lá của những cây dương thanh niên, xuống chỗ hai người. Tàn lá lớn vừa bằng chiếc dù nhỏ, trùm lên băng ghế; phần dư thừa rơi mất tiêu trên mặt sông sánh, đặc. Khoảng không trên cao im phắc. Chỉ có những tiếng động la đà mặt đường, mặt nước. Đó là tiếng động cơ từ xa. Tiếng nhạc dịu nơi một phòng trà phía sau lưng họ. Gió lăn những lượn sóng gợn va vào  bờ đá, tạo thành xâu chuổi rì rào, âm âm. Như tiếng ú ớ được bằng một lắng tai, chăm chú. Nhưng đó là những tiếng ì áo thật xa; phía những chiếc tầu đang neo. Người ta nhận ra nhờ những cột buồm đâm thẳng lên bầu trời xanh, đen. Những giải đèn mầu cũng im phắc. Biển phía đó. Người đàn ông tựa muốn bày tỏ ghi nhận này với người con gái. Cuối cùng, anh nói, điều tuồng không hề có trong trí: “Ngày xưa anh ở đây. Tuổi thơ anh. Một phần thôi…Mà kìa, đừng khóc…”

Bấy giờ người ta mới thấy rõ đôi vai người con gái đang rúng động. Dường nàng đã khóc suốt dọc đường. Một nơi. Có thể trong lòng chiếc xe Jeep, trước khi những người bạn thả họ xuống nơi ngã tư. Người con gái nói: “Đừng vào quán. Em không thể. Đi với em một lát.”  

Bờ sông. Những giọt nước mắt đánh dấu lề phố và những lòng đường tối. Những giọt lệ nhắc nhở, sống lại hình ảnh một Mỵ Châu. Một Mỵ Châu, nếu có đau đớn, tủi hổ, cũng chỉ đến thế là cùng. Đến thế thôi.

Mỗi ném lại là một mất đi, đứt lìa, vĩnh viễn.

Những chiếc lông ngỗng ấy. Tại sao lông ngỗng, mà không là những sợi tóc được bức nhổ từ da đầu? Mỗi sợi tóc, ai dám bảo không là một giọt máu (?) Những giọt máu sớm được nhỏ xuống, trả nợ nhau. Phải. Những giọt lệ kia.

Lịch sử vô tình. Dã sử hàm hồ. Thế đó, những giọt lệ người con gái bỏ lại, trong một phần đêm. Đêm trong một phần đời. Khác nhau chăng, dấu vết thành hình, không dể đợi chờ một dõi theo, tìm tới. Dấu vết bỏ lại chỉ là những đớn đau tình cờ, những đau xót kia đã như một đường dao, găm xuống mặt bàn mà, thân dao còn rung những đường rung phẫn, phẫn. Thế đó, đời mở và khép. Tình vui và buồn. Liên kết nhau như mắt lưới được đan bằng thép.

Đôi khi, nhân danh thương yêu, là ngọn gươm hai lưỡi? sắc lẻm? Đôi khi tình yêu, chỉ mang những tủi nhục cho nhau? Xé sợi!

Phi trường. Ba ngày trước đó, người ta thấy người đàn ông được thả xuống từ một chiếc phi cơ nhà binh. Buổi sáng muộn. Phú Bài, chìm trong mưa. Gió lạnh, ngọt. Chạm mặt đầu tiên  với thị trấn, ở người đàn ông, là một chạm mặt tàn nhẫn, quất vụt, không nương. Trời mù. Trần mây thấp. Bão giữa không trung. Trong thân tầu, trước khi phi cơ đáp, người đàn ông nói với bạn, anh cảm tưởng là một quân cờ bằng nhựa, bọ bỏ trong chiếc ống thiếc. Thời tiết có đôi tay quái ác, nhồi xóc anh. Như nhồi xóc những quân cờ lạo xạo tron ống kín…Mưa lầm lì những cơn lạnh lột da, tựa có tình xé tơi mọi con người thành những sợi nhỏ.

Nến đỏ. Đêm đem tới những mẩu nến đỏ. Những mẩu nến được tìm thấy trong ruột rỗng của chiếc phản lớn. Họ sống với nhau, trong mắt nhìn âu yếm và chia sớt của những người bạn. Mẹ già với tấm khăn len bao kín khuôn mặt xương xẩu; xế chiều, còn phảng phất đôi nét một thời thanh xuân, lùi sâu. Dĩ vãng. Nỡ nào, nói người con gái không hiểu tấm lòng người đàn ông dành riêng cho cô? Sao lại, rưng rưng ,đáy thẳm tình riêng đôi lứa, âm u?

Gió lay động những đốm lửa bên kia sông. Người đàn ông trừng trừng nhìn tấm gương đen. Đêm, sông có lời mời mọc, khuyến dụ êm đềm là, gương mặt khả ái của sứ giả, đại diện thần chết.

Anh nhắm mắt. Đôi vai người con gái, càng lúc càng như đôi cánh lớn, vỗ đập trong cưỡng chống tuyệt vọng trước cơn gió đốn mạt. Người đàn ông đặt tay mình lên vai cô, xiết ghì lấy. Cánh bướm im. Gió sông im. Đêm im. Trời đất im. Cô đã… òa vỡ.

Rơi hẫng. Người con gái tựa ngất đi trong ngực người đàn ông. Chỉ còn tiếng nức nở, dấu hiệu sinh động của sự sống. Một biểu hiện buồn thảm. Sự sống tưa xước. Người đàn ông nói:

“Anh xin lỗi. Lẽ ra anh không nên thế.”

Dễ tiếng nói của người đàn ông bị phản tác dụng. Nó trở thành những mũi khoan hay khối thuốc nổ, đào sâu thêm vực thẳm dằn vặt, đay nghiến…Anh, hẫng rơi, trước nhất. Những con sóng bi phẫn ào ạt, dựng thẳng. Anh mím môi, bấu ngón tay trên vai người con gái. Làm như anh tin, cử chỉ cấp thời kia, sẽ giúp anh bóp chết từ trứng nước, nỗi thảm tuyệt khuất lấp trong tâm hồn anh.

Đôi khi, những nhân danh thương yêu, là ngọn gươm hai lưỡi? sắc lẻm!

Người con gái bặt khóc. Có lẽ cả nước mắt cô, cũng khựng lại. Cũng chết cứng trước miệng bực, hút hút. Đớn đau, ưu uất, khi bước tới làm mức giới hạn nào, dường, người ta chỉ còn có thể khóc bằng một đôi mắt khô. Mắt khô, chứa những giọt lệ nóng. Như chính tâm hồn họ đang cháy trên lửa bạo.

Im lặng. Sự bặt, bặt trong thoáng chốc, tuồng khiến người đàn ông lo sợ. Sự lo sợ đột ngột ném anh trở lại trạng thái tỉnh táo cũ. Anh ôm cô. Lúc này, có dễ, anh chẳng mong gì hơn, thấy những giọt lệ, chảy được trên mặt nàng. Và anh hôn, những sợi tóc thơm trên trán. Chiếc khăn tay đưa ngang. Chờ chậm. Người đàn ông thở ra:

“Nghe anh. Đừng nữa. Xấu.Nghe.”

Không biết người con gái có bằng lòng “nghe” ngườ đàn ông (?) Anh tiếp, tựa nhận được sự đồng ý. Đại khái, lời người đàn ông mang tính dỗ dành. Có thể, anh thâu hoạch được chút ít hiệu quả. Bằng chứng đôi vai người con gái rung động lại. Những tiếng ức, uất nhỏ dần. Người đàn ông tìm đôi mắt, rồi môi cô. Trong tình yêu, đôi khi, nụ hôn cũng đóng một vai trò, coi được. Người đàn ông chỉ dãy đèn uốn khúc phía xa. Những chiếc tầu thả neo, quần tụ thành hòn đảo, phát sáng. Người đàn ông nói:

“Chắc núi, Dẫy núi. Đỉnh ngọn cao nhất. Em thấy?”

Cánh bướm rung, đập chừng mực. Người đàn ông tiếp tục với câu chuyện không được hưởng ứng của mình. Anh nói, giải đèn uốn khúc, như một con trăn lớn, neo trên lưng ngọn bạch lạp. Anh bảo, anh nhớ căn phòng (hay con trăn? Hàng bạch lạp?) Anh bảo, anh nhớ X. S. J. P. Họ đáng yêu. Nhưng cách nào, họ cũng thua em:

“Thua một biển. Một sông luôn. Bằng lòng không?”

Không thể nhìn thấy mặt người con gái lúc đó. Mái tóc thề phủ kín mặt nàng. Nàng cười, khóc? Đôi vai rung trong giây lát, xong, ắng im, như tờ. Gió tạt ngược từ phía sau. Gió chạy trên mặt sông gợn. Đêm như tấm lụa trải theo giòng nước xuôi. Có lẽ tinh thần của cả hai, đã dịu lắng. Họ tôn trong niềm riêng của nhau? Sự im lặng đẩy họ xa ra? Dù người con gái vẫn trong vòng tay người đàn ông. Anh thở nhẹ. Hút thuốc. Khét lẹt. Cô hít một hơi dài, tựa muốn hít luôn người đàn ông vào ngực.

“Anh, yêu quái?”

Bất ngờ, người đàn ông hỏi. Người con gài ngước đôi mắt mọng, sưng. Nụ cười trên khuôn mặt nàng xa, dường không thực. Ảo giác, hay tron cơn mê?.

“Em đâu là con mồi của yêu quái.”

Người con gái lắc đầu, tiếp:

“Vì…em nào được tiêu tan trong anh.”

“Hay yêu quái đã phải hóa thân làm người?”

“Xạo đi.”

Người đàn ông cũng cười. Anh vuốt tóc và, nụ cười cô.

Đôi khi, những nhân danh thương yêu là ngọn gươm hai lưỡi? Sắc lẻm?

Bước chân. Lúc hai người rời băng ghế đá, đồng hồ trên tay người con gái chỉ mười một giờ. Ánh sáng cho thấy người đàn ông là một quân nhân, và, người con gái có dáng một cô giáo. Họ đi chậm, một đoạn, trước khi rẽ vào thành phố, chỗ công viên. Người đàn ông liếc nhìn pho tượng đứng dưới ngọn đèn chụp, kiểu cổ. Pho tượng có vẻ buồn ngủ (ít ra cũng phải mỏi chân vì đứng đó không biết đã bao năm.) Hàng rào sắt thưa, bao quanh công viên, hắt những đường kẻ mảnh xuống mặt hè, thành những ô vuông với những mũi nhọn bị tòe đầu. Con đường sâu hút, dẫn vào trung tâm thành phố, giống một ống cống thủy tinh khổng lồ, có màu xanh, tối. Họ đi bên nhau, nghe được bước chân mình dội lại, tựa từ cuối đường.

Xa cách. Trong nỗ lực vá lại mặt nước bị xé rách nát bởi những hòn đá thô bạo lỡ tay, rớt xuống, người đàn ông kiếm chuyện. Chàng đề nghị với người con gái, khoác vai nhau, đóng vai hai thằng bạn, đi chơi khuya. Bạn trai, đi với nhau, vãn cuộc chơi, sẽ chẳng còn gì để nói, ngoài chuyện: kinh nghiệm tán gái và tiếu lâm…Người con gái lắc đầu. Nhiều phần cô bị bất ngờ trước đề nghị kỳ cục của người đàn ông.

Đêm. Rụt rè lảng xa hai…thằng bạn, mặc cho người đàn ông cao hứng với đề nghị của anh. Anh nói, chắc nịch như phần thắng sẽ thuộc về anh: “Ta bắt đầu K. đi. K. nhá.”

Người con gái bật cười:

“K. là bạn em mà.”

“Có sao? Thử thôi.”

“Không,” Co quả quyết.

“Hay nói chuyện tiếu lâm vậy?”

Người con gái quẫy người, huých khuỷu tay váo mạng sườn người đàn ông. Họ cười. tiếng cười của hai…thằng con trai đuổi những chiếc lá khô chạy xao xác, lạt xạt trên mặt đường. Tiếng cười của hai thằng con trai truy lùng đêm vừa lén, trốn.

Tiếng cười dứt, im lặng ập lại sâu và, lạnh nhạt hơn. Đêm thả từng chùm bối rối, phiến muộn phiền ướp hương, xuống thấp. Người con gái nói về những ngày xa cách. Những ngày bặt vắng tin của người đàn ông. Họ nói với nhau về tương lai. Tuồng chính ý niệm tương lai làm thành tình yêu, chứ không phải tình yêu làm nên tương lai. Tên những người vằng mặt lại được nhắc tới. Nhiều nhất: J. và P.

Họ như cùng mong mỏi trông thấy những thể hiện cụ thể nơi hai cái tên kia. Sự mong mỏi duoci975 hiểu nghĩa tấm huy chương hai mặt, phải và trái. Tốt đẹp cũng như, xấu xa.

Họ nói tới tên gọi, như hai tiếng tự nó đã đủ đầy kín bất trắc. Cuối cùng người đàn ông nói:

“Phải tin nơi P. Như em phải tin nơi tình yêu.”

Người con gái lặng thinh. Thấy lời nói của mình, dường không tác dụng, người đàn ông nói tiếp:

“Dẫu tình yêu nào, cũng chỉ như một chuyến xe muộn, về bến. Nó chẳng chở gì, ngoài một cảnh chiều, đuối.”

“Em nào nói gì?”

“Hay đã quá tải, khi bảo sẽ tự xử…?”

Đêm trở lui, theo bước chân họ, sâu vào lòng thành phố. Họ đi qua những ụ đá bên đường. Người đàn ông nắm tay người con gái. Họ vào một ngõ ngoắc ngoéo. Người đàn ông đứng lại, nhìn, khi người con gái đã khuất lâu, sau cánh cửa.

Buổi sáng, người ta thấy người con gái đứng cạnh những ụ đá rất sớm. Mặt trời kéo mỏng chiếc bóng nàng trên đường. Những người phu lục lộ chậm chậm mồ hôi. Chiếc hủ lô lăn tới, lui, nhiều lần. Tiếng xe nghiến đá, như tiếng răng chà, miết lên nhau, day qua, lại. Dường, người con gái có ý chờ, đợi. Có thể, cô muốn coi xem mặt trời rút co bóng cô tới mức nào, sau khi đã dát mỏng nó? Chốc chốc, người con gái cúi xuống nhặt một viên đá, ngắm nghía. Hờ hững buông. Nhặt lại (ngắm nghía/ hờ hững.) Viên khác. Cứ thế.

Đôi khi, những nhân danh thương yêu cũng là ngọn gươm hai lưỡi? Sắc lẻm!

Bất ngờ, người con gái ném viên đá vừa nhặt, chưa kịp ngắm nhìn, vào chiếc xe hủ lô đang lăn tới. Xe vượt qua.

Viên đá mất tăm, không dấu vết. Người con gái bưng mặt. Tuồng nàng linh cảm, sẽ không có một lần thêm, người lính trở lại thành phố, nơi nàng ở.

Chiếc xe hủ lô đi lui. Bụi đá bay quầng, quầng. Người tài xế trên chiếc xe hủ lô, nhìn nàng, cười. Nụ cười rỡ rỡ, thân thiện.

(1974-1994)


 *Tùy bút trên, đăng trong Tạp Chí Văn, số đặc biệt, “3 nhà văn “D”,” đề tháng 5-1974, Sài Gòn, Việt Nam. May mắn có lại số báo, tác giả; hiệu đính, tháng 11-1994, California, Hoa Kỳ.

(G.C.C.N.X.B.)



Mũi Đinh Người Đóng Nốt Xuống Tôi Đi


Chim đóng tiếp cây rừng quanh trái đất

Mũi đinh người đóng nốt xuống tôi đi

                                                Thơ dtl


Mỗi lần gặp thêm, những ghi nhận của tôi về An, một mạnh mẽ, đậm nét. Tôi không nhớ tôi bắt đầu nhìn khác về An, từ lúc nào? Khi An bắt đầu đi tu? Ăn chay? Khi An bảo, An sợ tôi đã rơi quá sâu trong màn u minh của ý nghiệp. An giải thích, người ta không chỉ bị khẩu nghiệp hay thân nghiệp. Người ta còn có thể bị ý nghiệp nữa. Tôi hiểu An muốn nói gì. (Đó là thời gian tôi lún trong mê đắm, hào hứng với những phóng bút châm chọc, lật tẩy kẻ khác, hoặc chính mình.Dường tôi mất hẳn tôi, sau khi tình cờ khám phá: mình cũng có thể ác độc, cay nghiệt chẳng thua ai. Tự biết này, làm tôi hưng phấn một thời gian, không ngắn!)

Cũng có thể tôi đã nhìn An khác đi, sau cái chết của mẹ tôi (?) Cung cách ứng sử an nhiên, bình thản của An trước biến cố, khiến tôi vừa ngạc nhiên, vừa nể trọng. Sau ngày “mở cửa mả,” tôi hỏi An một người sống lương thiện, tốt đẹp như bà, liệu có được siêu thoát? An đáp:

“Sự thương tiếc của gia đình, người thân, sẽ khiến linh hồn người chết quyến luyến, bịn rịn cảnh đời họ vừa từ bỏ.”

Theo An, người chết, trong vòng bốn mươi chín ngày, linh hồn còn quyến luyến thân xác. Dù họ biết, thân kia chỉ là bình đựng chứa linh hồn. Nó giả, tạm. Nó vô nghĩa. Dẫu sao, linh hồn cũng từng trú ngụ ở đấy, quá lâu. Thành thói quen. Chưa kể, linh hồn người mới chết nào, cũng được ma quỷ, những linh hồn vất vưởng, không siêu thoát, bu lại. Chúng dẫn dụ hồn mới không được, sẽ quay ra dọa nạt, khủng bố, “in hệt kiểu côn đồ lường gạt, dọa dẫm người lạ nước, lạ cái vậy. Nguy hiểm hơn, đáng lo ngại hơn, khi linh hồn người chết chưa chuẩn bị, không sẵn sàng đón nhận cái chết.” An nói, sự quyến luyến, bịn rịn thân xác, giống như ta bịn rịn, quyến luyến căn nhà ta được sinh ra, lớn lên…Vì thế, trong bốn mươi chín ngày, hồn người quá cố rất cần được nghe kinh. Những hồi kinh siêu độ giúp hồn bớt hoang mang, sợ hãi. Hồn sẽ bình tĩnh chấp nhận sự thực: bỏ thân xác, bước vào cảnh giới mới. Đời sống mới. Kinh không ích gì, không giúp hồn lìa xa xác thân, nếu cảnh tượng hồn ghi nhận, là đám con cháu, người thân yêu vây quanh, với những than khóc, tiếc thương, kêu đòi, níu kéo…Trong tình cảnh ấy, linh hồn đi sao nổi?

Những giải thích của An, không thỏa mãn tôi bao nhiêu! An cũng không trả lời thẳng vào câu hỏi: hồn mẹ tôi đi đâu, tới đâu, sau cái chết của thân xác? Vẫn theo An, sau bốn mươi chín ngày, hồn nào, dù tốt, xấu cũng bị dẫn tới một phán quan đặc biệt để xét xử công, tội. Không thể căn cứ vào những việc làm nhân đức lúc sống, mà, ta có thể kết luận, chắc chắn người đó sẽ lên niết bàn. Nhiều khi, sự tốt lành, nhân đức của họ, ở kiếp này, chỉ đủ trả những món nợ vay từ kiếp trước.

Trường hợp đó, họ sẽ được đầu thai trở lại, làm người thêm một lần nữa. Cho tới khi hoàn toàn dứt nghiệp. Cũng có những trường hợp dứt nghiệp rồi, nhưng hồn quá quyến luyến, thương tiếc con cháu; hoặc sinh thời hồn có những nguyện ước, thề bồi sâu, nặng, chết rồi vẫn ấm ức, áy náy,…Họ cũng được đầu thai.

“Tóm lại, tùy nghiệp duyên cũ, tùy nghiệp duyen6 mới, mà hồn sẽ được định đoạt,” An kết luận.

Tuy không htoa3 mãn, tôi vẫn cho giải thích cảu An, đáng tin cậy. Tôi nghĩ đã chọn đúng người, để nêu lên vấn nạn của mình, dù An là cháu. Đứa cháu, sẽ gần tôi mãi, nếu không có biến cố Tháng Tư, bảy lăm.

Cách gì, mỗi chúng ta cũng chỉ như một mặt gỗ xốp, mà, những mũi đinh đời sống, không ngớt, đóng xuống.

Tôi không biết nguyên ủy sâu xa nào, biến An từ một đứa trẻ hay dỗi, ưa tủi thân, dễ cáu gắt trở thành một người điềm đạm, chững chạc, bao quát một cách sâu sắc mọi vấn đề, như vậy. Lạ một điều, An trở thành người khiến tôi ưa lắng ngh, trong mỗi gặp gỡ, và, ra khỏi câu chuyện, tôi vẫn thấy nơi An, ắp đầy nét trẻ thơ, (đôi lúc ngây ngô) thuở nào. Hay An, chỉ là người khác, thí dụ, triết gia/ tu sĩ thức ngộ/ hành giả ở những câu chuyện liên quan tới lẽ “chân, giả?) Tách lìa thế giới  hư không kia, An lại trở về con người nguyên thủy, con người xã hội, con người hữu cơ? Lúc vui, lấp lánh hồn nhiên, dí dỏm. Lúc buồn, hằn khắc nhẫn nhịn, che dấu? Hay chính sự tìm thấy nơi thẳm sâu, kinh nghiệm khám phá bản thân, nỗ lực vượt qua đôi ba tầng giới hạn của cái “thức,” đã cho An những bình yên, thanh thản tới cả ngố?

Là con trai lớn của anh chị Q. tôi, tính theo thứ tự, An là con thứ. Trước An, có Hương. Hồi nhỏ, Hương sớm phát lộ thông minh, cá tình, và, mức độ nhậy cảm đặc biệt với thế giới của những  Điều phức tạp, vô hình như văn chương, nghệ thuật…Trong lúc An không hề. An hiện ra như một chú nhỏ bụ bẫm, chậm đụt, không cạnh sắc, không cá tính dự báo một xu hướng đặc thù, ngoài vẻ thật thà, đôn hậu. Ngay việc học, An cũng mờ nhạt trước chị, Hương giỏi bao nhiêu, An tầm tầm (có phần đuối) bấy nhiêu. Những năm phải thi trung học, tú tài…, gia đình chỉ  băn khoăn không biết Hương đậu hạng nào? Ưu hay bình? Tuyệt không chút thắc mắc. An, trái ngược. Ai nấy canh cánh bên lòng mối lo, trĩu nặng.

An thi tú tài nhất, năm bảy ba. Luật tổng động viên đã ban hành. Nếu rớt, An sẽ bị bắt lính. Và, An trượt kỳ nhất. Mẹ tôi thấp thỏm, thở dài, từng đêm, không ngủ. Trong mắt nhìn của bà, với quan niệm cổ, An là cháu đích tôn, là, giọt máu chính của dòng họ. Như thể, bấ cứ một bất trắc, trục trặc nào, xẩy đến với An, thỉ, điều đó đồng nghĩa với sự không may mắn hay bất hạnh, sẽ ảnh hưởng đến nhiều đời nối tiếp. gần nhất, nó sẽ ảnh hưởng trầm trọng tới việc ma chay, cúng quẩy người quá cố…

Vắng anh chị Q., qua những gặp gỡ riêng chúng tôi, mẹ tôi thường ca cẩm anh chị Q., không chú trọng, không thương yêu An bằng Hương. Vì thế mà, thằng bé chán ăn, chán học.

“Nó bé bằng cái kẹo, có nhớn nhao gì đâu mà, lúc nào cũng hầm hè với nó, như quân thù quân hằn,” mẹ tôi than vãn.

Bước sâu hơn, trong kiếm tìm nguyên nhân đưa tới sự thi rớt của An, mẹ tôi còn cho rằng, thời gian học thi, An không được tẩm bổ đầy đủ…! Lậy Phật. Lòng thương cháu…đích tôn quá độ, vô hình chung, mang đến cho mẹ tôi cái nhìn đầy kỳ thị. Mẹ tôi bẵng quên, Hương cũng trải qua những kỳ thi như An. Hương cũng được nuôi dưỡng trong một khung cảnh, diều kiện như An. Chưa kể, Hương mới chính là đứa con không được hưởng những ngoại lệ như An.

Gì chứ, riêng phần mẹ tôi thôi, tôi dám quả quyết, sinh thời, cụ không bao giờ dấm dúi tiền cho Hương, nhưng An, thì có. Nhiều nữa. Cũng như tôi và C., rất gần An. An là người bạn nhỏ, thân thiết của cả hai đứa. Sau này, không chỉ An, đám bạn An, cũng trở thành bạn tôi và C. (Hương gần chị Băng tôi hơn, có dễ vì cùng là đàn bà, con gái.) Bất cứ lúc nào, muốn đi uống cà phê, An hay nhóm bạn, đều có thể hỏi, hoặc rủ tôi đi, như một người bạn (có khả năng chi tiền hơn bạn khác.)

Tôi nhớ, còn đâu hai tháng để chuẩn bị thi kỳ hai, An tới ở với chúng tôi, trên căn gác, đường Hai Bà Trưng, gần cầu Kiện. Lúc này, chúng tôi vừa trải qua một thảm kịch lớn. C. sinh đôi, thiếu tháng. Không giữ được. Có thể do hậu quả của việc chúng tôi bị mất cắp chiếc xe. Tôi quyết định mua chiếc khác, dù C. không đồng ý. Tôi mong tôi sai, khi muốn ngăn ngừa việc gia đình tôi, có ấn tượng xấu, bất công về C. Tôi sợ mọi người cho rằng C. là đầu mối của các tai họa. Để dấu chuyên mất xe, tôi nói với gia đình, tôi đổi xe khác, rẻ hơn. Kế tiếp, hông thể để C. tiếp tục sống giữa vùng ác mộng. Đêm nào C. cũng nằm mơ thấy hai con về. Chúng dắt tay nhau đi dưới những hàng cây cao su…Khi chúng bảo “Mẹ ơi, tụi con lạnh.” Khi chúng nói, “tụi con không ở với mẹ được, tụi con đi đây.” Những giấc mơ đại loại, rút dần khỏi thân thể C., chút sin hkhi1, thoi thóp. Có đêm, C. giật mình vì những tiếng động tưởng tượng. Tựa bọn trộm xe, còn tiếc rẻ vật gì đó, trở lại, rình rập để lấy nốt. Không chỉ C., ngay tôi, cũng sống trong nỗi kinh hoàng/ ám ảnh/ thường trực/ địa ngục. Tôi quyết định đổi chỗ.

Trước khi An tới, C. vẫn sống những ngày lặng lẽ trong bóng tối và nước mắt. Có An giữa chúng tôi, nơi chỗ ở mới, C. vui hẳn lên. Tựa An là chiếc cầu nối C. với bờ kia, sự sống.

Cách gì, mỗi chúng ta cũng chỉ như một mặt gỗ xốp, mà, những mũi đinh đời sống, không ngớt, đóng xuống.

Dịp này, chúng tôi có cơ hội chia xẻ với nhau, nhiều điều. Ngoài những ly cà phê tại nhà, tôi và An còn có những cữ cà phê ở quán; đa số, hông đường Nguyễn Du. Hồi đó, đường Nguyễn Du, đoạn gần Bưu Điện, trước trường Tabert, người ta bầy bàn và, những chiếc ghế thấp, bán cà phê bít tất. Chúng tôi ngồi đó, uống những ly cà phê “xây chừng” với lá me quanh năm, như những hạt cốm xanh, nhẹ tưng, trong gió. Cả một dọc hàng cà phê, bánh cuốn,cơm tấm tựa lưng vào vách tường, dưới những tấm vải bạt nhỏ xíu, không tên, nên được gọi chung là cà phê lá me. Một thời, nơi đó là điểm hẹn, nơi gặp gỡ, của An với các bạn và, tôi với những người con gái, C. không biết. Trong tôi, bắt đầu nhen nhúm câu hỏi phải chăng, nơi An, đã hình thành những bất mãn, thất vọng về gia đình? Bố mẹ? Cảm nhận lớn dần, thành những câu hỏi, tuy chưa một lần tôi tâm sự với ai, ngoài C. Cảm nhận này, sở dĩ có, bởi tôi thấy An thật hạnh phúc, thật hân hoan, khi ra khỏi nhà, lúc ngồi với bạn? Giữa gia đình, chung quanh những người thân, tôi ít thấy được vẻ hồn nhiên, nghe được tiếng cười trẻ thơ từ An. Những ngày ở tạm nơi tôi, An rất tự nhiên, thoải mái, không khép kín. Kỳ thi đó, An đậu.

Hôm trở lại báo tin vui, tôi hỏi An muốn thưởng gì? An bảo, An muốn có một chuyến đi Huế. Tôi đồng ý ngay:

“Thì Huế.”

An muốn đi Huế, có thể, ngoài lý di chưa tứng biết vùng đất mang tên Thần Kinh, địa danh những lăng tẩm; còn vì tò mò muốn biết người bạn gái tôi, thời đó. Hạnh. Hạnh đang học năm thứ hai, Đại Học Sư Phạm. An chỉ nghe tôi kể úp mở về nàng, với những quyến rũ mơ hồ một nơi chốn được văn chương nói tới nhiều nhất, sau Hà Nội…Sự kiện này, nung nấu thêm óc tò mò của cu cậu?

Cùng An, tôi trei3 qua những ngày cuối cùng của một mùa hè, Huế. Cùng An, những đêm trăng, sân trước, tắm mình trong hương hoa chanh, khế, và tiếng vặn mình trên cao của những bẹ hoa cau, chưa đơm thành buống trái, tôi hãnh diện cho được An một chuyến viễn du (đúng nghĩa) với những lạ lẫm, kỳ thú ở tuổi niên thiếu. Và, tôi tin, An cũng nhìn tôi với tất cả cảm phục dành cho một người chú…giang hồ.

Năm sau, An thi đậu tú tài toàn phần. Vẫn còn bị ám ảnh bởi luật tổng động viên, trong lúc chờ gia đình tìm đầu mối gửi đi học ở Canada. An ghi tên học khoa hóc. Giẫu lúc An bắt đầu có được cho mình chút niềm tin và, phấn khởi nào đó về tương lai, thì, cũng là lúc An phải chuẩn bị cho một chia ly: gia đình, bạn hữu. Tôi không tin An thích hợp với những năm học, ở một đất nước xa lạ. Tôi cũng không nghĩ, thâm tâm, An hài lòng với sắp xếp của gia đình. Tôi cảm tưởng, cùng lúc. An bất an, và hạnh phúc. Cùng lúc, An hớn hở và, muộn phiền. Nhiều buổi tối ngồi với tôi và Th., An tâm sự muốn thoát ly gia đình, sống một đời sống hoàn toàn tự lập. Th. Bào, ai khác thì được, An thì không, An hỏi tại sao?

“Gió bão không phải là môi trường cho An vùng vẫy.”

Th. Nói, nhắc nhở tôi lưu ý tới An nhiều hơn. Phần tôi, tôi không lo lắng lắm. Mơ ước của An, tựa chút lãng mạn bồng bột của tuổi trẻ. Nó sẽ tan nhanh như những dợn mây mù trong một sớm mai nhiều nắng. Hơn nữa, giấy tờ du học của An, đang được xúc tiến.

Giữa lúc đó, tình hình chính trị, quân sự miền Nam có nhiều biến chuyển lớn. Khởi đầu, cao nguyên triệt thoái. Sau tới Quảng Trỉ, Huế, Lộc Ninh…, hàng loạt thành phố miền Nam rơi vào tay Bắc quân. Như sự ngã đổ mặc nhiên của những quân cờ domino. Thời gian này, tôi ít gặp An.Th., về Vũng Tầu trước đó, như một bày tỏ dứt khoát, quyết tâm cắt đứt mọi liên hệ giữa tôi và nàng. Hạnh ở Pleiku, không tin tức. C. loay hoay tìm cách cho tôi giải ngũ. Tòa Đại Sứ Pháp trả lời, nếu tôi không thuộc diện quân đội hay công chức chính phủ, họ sẽ cho tôi di tản theo chương trình hồi hương Pháp kiều, với C. Giữa tháng Tư, tôi còn nhận lệnh đi làm phóng sự ở Nha Trang. Hy vọng tìm thấy Hạnh, trong đoàn người khốn khổ đầu tiên, về tới Tuy Hòa. Những đoàn tỵ nạn, như đám kiến bò quanh miệng chiếc chảo mỡ sôi sục của chính mình.

Cách gì, mỗi chúng ta cũng như một mặt gỗ xốp, mà, những mũi đinh đời sống, không ngớt, đóng xuống.

Một tuần, trước ngày Ba mươi Tháng Tư, Hạnh về tới Sài Gòn. Từ đầu tới chân, là quần áo, giầy dép, mượn của vợ cậu. Gặp nhau giữa sân cục TLC., tôi ôm Hạnh trong tay, như ôm mới ân hận có thật. Hạnh hỏi An. Tôi bảo đã được gửi theo một gia đình lạ, đi Canada, hai ngày trước. Tuần kế, tới phiên tôi đi. Chuyến đi không định trước. Không một chút. Tôi, như hạt bụi trong bàn tay khổng lồ của định mệnh. 

Nhờ sự giúp đỡ của Lộc, hai năm sau, An được đoàn tụ với gia đình.

Không thể xác định biến cố đất nước tan tác hay, những năm tháng thình lình, cắt lìa cuống rốn gia đình, trái tim bị đặt ngoài lồng ngực thương yêu,bảo bọc, nên, An thành một người khác? Tôi ngửi được khá nhiều mùi bất thường, qua những lá thư An viết từ Canada và, những lần điện thoại viễn liên. Dường trong An, có những cánh cửa bất ngờ, bắt đầu hé mở. Những cánh cửa suy tư về con người/ đời sống/ vật chất/ xã hội/ tâm linh.

Những cánh cửa thực tiễn, oán hận, phê phán, ở An, mở ra, hướng tới những nổ lực tìm kiếm bản sắc, nhận diện chung quanh; cật vấn hiện hữu; đi tìm ý nghĩa trước tiên/ sau cùng của hiên hữu đó.

An kể những đêm trắng, tuyết, đứng rửa bát trong ngôi quán “toàn tây” Những chuyến xe bus chiều, ngang qua những dãy phố, ngôi nhà ấm áp ngọn đèn vàng, tỏa xuống những bàn ăn, quây quần. An nói về những sớm mai, trở dậy, nỗi hiu quạnh, niềm trống trải, muốn khóc. Tôi đọc những lá thư thưa thớt của An, như đọc những đoản văn, tùy bút đầu tay của người cháu, vốn được ghi nhận như một thành viên mờ nhạt, (không lộ tỏ một xu hướng, thời niên thiếu) Những đoản văn của An, không hề nhắc nhở những ngày tháng quê nhà, tuổi thơ nơi miếng sân trong, ngôi nhà đường Trần Hưng Đạo. Những buổi trưa tôi và An cùng trốn ngủ, lén xuống bếp nấu những soong bột hoàng tinh, trộn đường, thành những tảng bột trong veo như, những khối thủy tinh rung rinh, ướt nhão. Những buổi trưa nơi vuông sân sau này, tôi và An ngồi lọt thõm trong chiếc ghế da khổng lồ, gỡ từ chiếc xe nhà binh nào đó. An, khán giả đầu tiên, (duy nhất) nghe tôi tập thởi sáo, harmonica

Những tùy bút của An, không hề nhắc tới những lọ cá đá, ngoài ban công, ngôi nhà ở Hòa Hưng. Thế giới riêng (đầy gió bão,) hư ảo, tưởng tượng của An? Những con cá bé xíu, xanh lè hay đen bóng, bất động như những thiền sư cô độc, neo thân xác (giả, tạm) giữa hư không. Những thiền sư (cá đá) cô độc lạnh nhạt, hờ hững trước mọi chăm sóc nồng nhiệt, chiêm ngượn tận tình của An…

Thư của An, như những đoản văn, tùy bút đầu tay của một thời tuổi trẻ, cho thấy cố tình bôi xóa, đoạn lìa giữa An và quá khứ. Tôi không hiểu, có phải An đang bước vào thời kỳ trưởng thành “quá độ” hay, đời sống, những ngày hiu quạnh, đã dựng, đào trong An, đẫy ngọn núi và, nhánh sông tân lập?

Gặp lại An, ở đây, nơi tôi, là một gặp lại: người cháu năm xưa cùng, người bạn mới, (tôi chưa có đủ thời gian thiết lập một tình thân thiết,) khác. Thời gian đó, C. và Du, Như cũng mới qua từ Pháp. Tôi làm việc bất kể ngày đêm, trong nỗ lực lấp đầy thiếu hụt trước một tái định cư và, thanh thỏa mọi vướng mắc/ nợ nần/ ân nghĩa tình cảm/…trước đấy.

Điều kiện, môi trường sống mới không còn cho tôi/ An những sáng lá me, những chiều cà phê Hân, những tối Nguyễn Thiện Thuật…Cơm áo, an nguy tương lai, đe dọa ngày tới, đẩy chúng tôi, mỗi đứa lên một xa lộ mưu sinh mờ mịt. Lúc nào, chúng tôi cũng  bị cảm giác ma đuổi sau lưng.

An rất thực tế. Chân ướt chân ráo, tới Mỹ, An đi làm ngay. Việc tay chân, để giải quyết cái xe, trước khi ghi tiên học lại. Tôi nhớ việc sau cùng của An làm, là công nhân điện tử, do C. giới thiệu, cùng hãng. Tuy không có nhiều thời gian đàn đúm với nhau, nhưng trong những giờ phút trò chuyện ngắn ngủi, tôi ghi nhận được nhiều cay đắng, mỉa mai, trong An, về gia đình, xã hội. Rồi An đi học lại. Học toàn giờ. Rất bất ngờ, thích thú cho tôi, khi được biết An trở thành sinh viên xuất sắc nhất của trường. An luôn có tên trong “Dean’s list,” bạn An, Phước kể vậy. An ra trường, có việc tốt.

Những cuộc tình êm đềm của An, bên những đổ vỡ, đổi thay ghê gớm của tôi.

Giữa bình yên với những thành tựu tốt đẹp, giữa phẳng lặng với những đảm bảo, dư giả vật chất, giữa đinh ninh, An đang xây nốt cho mình, tầng lầu chót tòa nhà cá nhân phủ phê, thì, tôi được tin An hành thiền, trường chay, nhập định.

Quyết định trường chay của An, là một bàng hoàng, đau xót vô ngần cho anh chị Q. Các em An, đứa hoảng hốt tìm hiểu. Đứa diễu cợt, cho là hành động bốc đồng, phản ánh một khủng hoảng (tâm lý/ tình cảm) nhất thời. Phần riêng, An bình thản, tự tin. Đó là khoảng thời gian An tìm được nguồn nước hạnh phúc, trong lành nhất?

Cách gì, mỗi chúng ta cũng chỉ như một mặt gỗ xốp, mà, những mũi đinh đời sống, không ngớt, đóng xuống.

Không thể xác định, phải chăng tôi đã nhìn An cao quý, lớn lao từ sự kiện An từ bỏ đời sống đầy đủ, đuổi theo một tìm kiếm mơ hồ, một cật vấn hư ảo? Hay chính sự chay trường, ngồi thiền một đêm của An (điều tôi không làm được, dẫu chỉ dăm ba ngày) làm tôi khâm phục, kính trọng  An? Tuy nhiên, dù chay trường/ tu thiền/ hành đạo mỗi ngày (theo cách riêng của mình,) An vẫn làm việc, sinh hoạt như một người thường.

Đời sống, với chất nhực, keo thúc bách, vẫn dính cứng chúng tôi trên dòng xa lộ cơm áo mù mịt. Đôi khi, xa lộ có điểm giao nhau. Đôi khi, chúng băng băng, chạy tuốt luốt về hai hướng đối nghịch. Nhưng, lúc nào, An cũng ở trong tôi, như kẻ đồng hành, chứng nhân, nhỏ bé, một thời thơ dại và, sau rốt, một thiền giả, trẻ tuổi. Ở đâu, lúc nào, tôi cũng dõi theo bước chân của An, tuồng muốn được vui, buồn cùng lúc với người bạn thời thơ ấu của mình.

Ngày An lập gia đình, có mặt ở đây, tôi mang theo ngỡ ngàng, kinh ngạc, tới dự. (Như lần đầu, nghi tin An tu thiền/ chay trường vậy.) Quyết định lập gia đình khá đột ngột của An, gây không biết bao câu hỏi, thắc mắc, xôn xao cho người thân. Những thắc mắc, nghi vấn nhiều năm sau, còn lẩn khuất đâu đó, trong phỏng đoán mỗi người. Nhiều nhất, nơi chị Băng tôi. Tôi không thể cho mình một kết luận, cũng không có ý đi tìm một kết luận, riêng.

Kể từ ngày An nhắc nhở:

“Coi chừng, chú vùi sâu trong ý nghiệp,” tôi tin, mọi quyết định của An, đều khởi tự những nỗ lực “phá chấp, xả ngã,” của An. Ghi nhận này, nơi tôi, không có nghĩa, tôi đã không thấy, sau hôn nhân, đâu đó trong mắt An, những giải sương mù, những vùng mưa tụ, những tâm bão thinh, lặng, thấp thấp.

Cách gì, mỗi chúng ta cũng chỉ như một mặt gỗ xốp, mà, những mũi đinh đời sống, không ngớt, đóng xuống.

Không rõ bao năm, không rõ thời gian đã để lại trên mái tóc chúng tôi. Bao nhiêu sợi tóc bạc và, các ngăn chứa trong ký ức An, chồng chất, đổi thay, những gì (?) Cuối cùng, chúng tôi gặp nhau.

Cuối cùng, chúng tôi có với nhau một buổi cơm tối, nơi ngôi quán, tôi hầu như hàng tuần và, An, đã lâu, quá lâu không trở lại.

Chúng tôi không chỉ có lại, buổi tối, chén bát. Chúng tôi còn có lại, những ngày cuối một mùa hè, Huế; hơn hai mươi năm, cũ.

Tôi không nghĩ, An vẫn nhớ những ngày cuối một mùa hè, Huế. Tôi không nghĩ, An vẫn còn nhớ ngôi nhà, như một ngạch chuột đào ruồng trong ngõ đất. những đêm trăng, sân trước. Những người An chỉ gặp một lần. Đời sống An, sau này, tôi nghĩ, cần nhiều ngăn cho những chứa đựng khác hơn thời gian/ kỷ niệm ngắn ngủi kia. Nhưng, gặp lại An, nơi Hạnh, (và gặp lại Hạnh nơi An) đã không là một gặp lại ngỡ ngàng, xa lạ.Phần Hạnh, tôi hiểu được.

Tôi hiểu, trong một ngăn nhỏ bé, chất chứa kín bưng những kỷ niệm chiu chắt thời thiếu nữ, dong buồm ra khơi với tình yêu thứ nhất của Hạnh, An đã là một giây chão/ phần gió khơi/ một có mặt khoảnh khắc (xương thịt) của cuộc tình kia. Chúng tôi thường nhắc, nói về An, như nhắc, nhớ phần đời nhiều hương khế, tiếng vặn mình (trên cao) của những bẹ hoa cau, chưa kịp kết thành buồng trái. Tựa, cách gì, mỗi chúng ta cũng chỉ như một mặt gỗ xốp mà, những mũi đinh đời sống, không ngớt, đóng xuống.

Nhưng nhớ lại, ở An, với tôi là một không ngờ. An nhớ/ nhớ/ nhớ/ nhớ…như nhớ lại Ph, Nhớ người con gái đã cho An những nghe trái tim bóp thắt tựa người ta dùng hết sức mạnh của đôi tay, để xoắn, vắt chiếc áo cho kiệt cạn những giọt nước sót, trước khi máng lên giây phơi. Ph. Đã cho An những đêm đau đớn, nhẩy dựng. những sớm mai lộn, lăn từ giường, xuống đất. Ph. Cho An hiểu, rất hiểu, tình yêu là gì (?) Nhớ nhung là gì (?) Là gì? Nếu không ngoài nắm chắc:

“Ngày mai, mở mắt biết mình vẫn con người đó, “An nói.

Ph. Đã cho An hiểu, rất hiểu, tự ái là gì (?) Cái tôi là gì (?) Thân xác hay linh hồn (?) Sở hữu hay vuột mất (?) Những gì làm nơi cái thức? Thức/ Thức/ Thức/…Biết/ Biết/ Biết/…Cái chén tôi đang cầm trên tay. Đôi đũa tôi được dậy từ ấu thơ để, gắp. Cái thìa để, múc. Thậm chí, những ý niệm. Những khát vọng trừu tượng. Niết bàn, Địa Ngục. Hạnh phúc. Khổ đau. Thành, bại. Được, mất…

Ta là ai (?) cái gì giữa thức và vô thức? Giữa những điều ta được dạy dỗ và không được dạy dỗ (?) Kẻ thứ ba? Khe hở đương nhiên của mọi đời sống? Vùng đất trũng, cho những mạch nước nhạy cảm, thực tiễn, chảy xuôi? Ph. đã cho An thấy, rất rõ, thình lình, những người sống chung nhau, dưới một mái nhà, bao giờ cũng tạo thành một luồng tư tưởng chung. Dẫn dắt cho luồng tư tưởng đó, luôn là người chủ gia đình, con vật đầu đàn:

“Ngay cả khi ta ngỡ mình, riêng mình tách thoát được, khỏi sức chi phối của dòng tư tưởng chung, đấy củng chỉ là cảm tưởng.”

Cảm tưởng” An nói, với tất cả cố gắng cho tôi và Hạnh, hình dung được, một cách cụ thể hai chữ “cảm tưởng” ấy.

Ph, đã cho An, những ngày thấy rõ: “chết mới dễ hơn sống làm sao!” Ôi chao, “chết mới nhẹ nhàng, êm ái làm sao!” Và, khi ấy:

Cháu chỉ muốn chết,” An nhận.

Những ngày nằm vắt mình ngang đường biên tử sinh, An chạm mặt đối diện với cái thức. Cuộc tranh chấp, thảo luận giữa hình/ bóng lần hồi đi tới chỗ quyết liệt. Đòi hỏi một ngã ngũ rốt ráo. Và, An trực nhận:

“hạnh phúc là sự thoát khỏi cái lằn mức giới hạn của chính mình.”

Tâm thức An được giải phóng. Tam thức An cất cánh. Nhưng Ph. Không chia xẻ được. (Hoặc sẽ, ở một ngày nào khác?) An nheo mắt nhìn Hạnh. Nét trẻ thơ, vẻ ngu ngơ, đôn hậu, tôi thấy, không chỉ nơi gương mặt, cả nơi những sợi tóc đã ngả mầu của An.

“Cô nghe, như nghe chuyện một người điên, phải không?”

An hỏi, hạnh cười. Lắc đầu. Chúng tôi ngó xuống bát cơm của mình. Sự cất cánh, ngõ giải phóng An tìm thấy, cho chúng tôi cơ hội: thở ra.

Buổi tối đường sáng lên (dù dòng điện của những ngọn đàn không hề thay đổi.) Bao giờ, thảm kịch của tình yêu, cũng do nơi khựng, chậm nửa bước của kẻ kia hay, người này. Thiên đàng, địa ngục là một, nếu không có sợi tóc mỏng như một chớp mắt, ngăn đôi.

Tiếp tục những hạt cơm còn lại, trước khi ra khỏi bữa ăn, An đưa tay lên đầu. An vỗ vỗ, phần sau ót:

“Chỗ này, Tất cả ở chỗ này. Nhưng mà chú biết khôn, dàu vậy cháu vẫn thấy như còn một vướng víu, một vướng mắc nào đó.”

Có thể An loay hoay tìm kiếm một thí dụ cụ thể, cho tôi hiểu. Hoặc An không muốn nói rõ hơn. Tôi bảo tôi hiểu, điều An muốn nói. Điều muốn nói sau cùng, nơi An, trong gặp lại, cuối đời, sau mọi bổn phận, mọi trọn vẹn với hiện hữu, An sẽ tìm gặp Ph. An sẽ gõ một cái “gõ trăm năm” xuống đầu (ngay chỗ An đã vỗ vỗ?”) để Ph. Đượng như An .Cất cánh.

“Riêng việc sau cùng cháu làm, tên đó dùng cái thức để suy luận, nên không hiểu. Chứ thật ra, tên đó nhậy hơn cháu nhiều lắm. Sự kết hợp giữa hai người là, tạo nên những xung đột. Nhờ xung đột, một người sẽ vỡ ra. Kẻ thức ngộ bước trước kẻ kia, một bước và, không lâu, kẻ kia sẽ bắt kịp,”

Lời nói của An, vẽ trong tôi hình ảnh theo nhau, lên cao mãi, của những con chim, biết được sinh ra, để sống với nhau hay, đời sống chugn1, chỉ ý nghĩa khi, dành cho nhau, bắt kịp nhau thì, cũng vậy.

Trước khi ra về, lúc bắt tay, tôi muốn mượn câu nói của An (trước đây,) để nhắc nhở An:

“Người ta không chỉ mang khẩu nghiệp, thân nghiệp…Người ta còn có thể bị vướng mắc trong vòng ý nghiệp nữa…”

Nhưng tôi im lặng. Tôi tự hỏi, có cần thiết chăng (?) 

Cách gì, mỗi chúng ta cũng chỉ như một thân gỗ xốp, mà, mũi đinh đời sống, không ngớt, đóng xuống. Biết đâu chừng, trái tim thiền giả trẻ tuổi của tôi, lại chính là, một miếng gỗ xốp…, mềm hơn cả?



Riêng: Biệt Ly…Quá Đỗi!


Mọi thứ cũng chỉ thường thôi

Riêng: biệt ly…quá  đỗi.

                           Du Tử Lê



Con đường cherry, Cỏ ngửa mặt đón bụi phấn nước, búng đi từ những ngón tay sương sớm. Những cọng cúc dại cũng lí lắt dướn mình, đón nhận hơi thở núi. Khu chung cư hai tầng, đỏm dáng với cột và, nẹp gỗ nâu còn ườn, khươn giấc ngủ nướng. toàn cảnh: xộc xệch, mệt mỏi, trễ nải, chảy xệ như vẻ đẹp ửng chiều của một thiếu phụ nhan sắc, lúc chiếc xe người đàn ông, dừng lại. Lần này, anh tuồng thuộc, thạo hơn. Không thuộc, thạo sao được khi tối qua, anh mới đưa người con gái về. Trí nhớ anh còn bập bềnh môi hôn. Những nụ hôn khát, rực. Những nụ hôn làm người con gái tối tăm mặt mũi. Người con gái không kịp có phản ứng nào khác hơn (cỏ ngửa cổ, hoa dướn mình) khứng nhận. Những ngón tay người đàn ông, như được hướng dẫn bởi những đêm mưa xa/ ngày gió cũ/ biển sau lưng/ rừng khuất mặt/ gối chăn trơ/ ngậm ngùi gió/ biển sau lưng/ rừng khuất mặt/ gối chăn trơ/ ngậm ngùi gió/ vắng xa điên/ ghen tuông trắng/…

Những ngón tay người đàn ông chạy trên thân thể người con gái. Những ngón tay cuồng nhiệt giận hờn ngừng trên ngực/ vai/ bụng nàng. Những ngón tay đuối trong mùi hương/ hồi sinh sức ghì xiết. Không thuộc, thạo sao được, khi thấy lại nhau (nơi cả hai người) là, thấy lại điều tưởng mất. Khi hít thở được mùi nhau (nơi cả hai người,) là, hít thở được mùi bên thịt da bên kia bức tường bằn bặt. Lồng ngực căng phồng/ trái tim nở nang/ chiều cao tăng trưởng/ gấp bội. tựa mỗi đứa đã thành một người khổng lồ, lênh khênh, vượt bỏ đám đông, nhân loại nhúc, nhúc dưới chân. Không thuộc, thạo sao được, khi chia tay, buổi tối, là, chia tay mở ra cửa khác (dù người đàn ông ngồi trong xe nhìn theo dáng người con gái tỏa niềm vui nhún nhẩy, khuất giữa những hàng rào cây thấp,) ngay khi cánh cửa trên tầng lầu khép lại, xóa tắt vạt đèn. Cửa khác đã mở ngay từ môi hôn chia tay/ hẹn hò thấy trước/ thịt da hấp nóng suốt khoảng cách thời gian giữa hai buổi hẹn.

Cỏ ngửa mặt đón bụi phấn nước búng đi từ những ngón tay sương sớm. Người đàn ông ngửa mặt đón mùi hương/ người con gái/ xuất hiện từ con đường nhỏ, dẫn ra cửa chính chung cư. Nàng, như con sóc hớn hở trên đôi chân thơ ngây, làm sớm mai tuồng cũng hớn hở theo. Qua khung cửa xe, người con gái (lí lắt) trao người đàn ông bông cúc dại. Hoa: vàng ngọt. Nàng: trắng thơm. Mùi con nít. Người đàn ông không chờ được, dù biết nàng sợ chung cư/ nhỏ bạn/ chồng bạn/ chòm xóm…Chàng ôm lấy: Khối bông gòn, nõn, sớm mai. Chàng dúi mặt vào cổ nàng (như con nít) tìm hơi mẹ. Chàng tìm thấy, mùi tóc ngắn/ shampoo/ son/ phấn/ nước hoa. Chàng tìm thấy, mùi đêm thao thức, chảy nóng thịt da/ những cồn cào, muốn điên, điện thoại/ những tháng ngày cầm bằng, để mất. Nàng ôm chàng. Dường nàng không thể chống trả sức hút của cơn bão (?) (Hay xa vắng bằn bặt đã dậy bảo nàng về những phỉnh gạt đốn mạt đương niên của ngày mai? Thứ ngày mai, không có trong cuộc tình hai người?) 

Môi tìm nhau, Môi muốn khóc.

Người con gái nói:

“Đi đi anh.”

Tiếng nói chĩu nặng những lượng máu rần rật chạy trên khuôn mặt đỏ gắt.

“Có những đêm ta tưởng không có cách gì qua được,”

Người đàn ông nói.

“Em cũng vậy. Ngâu không chịu ngủ phòng mình. Em mong tiếng đập cửa. Mang em đi.”

“Và đồng thời, sợ hãi?”

Người con gái nghiêng đầu:

“Điều gì?”

“Tiếng gõ”

“Em đã quen.”

“Thất vọng?”

“Anh nghĩ chúng ta cũng có thể có được một khuôn mặt khác?”

Người con gái hỏi. người đàn ông nhả tiếng thở dài theo hơi thuốc lá. Niềm vui của họ, cũng hiếm hoi, như những gặp gỡ.

“Thảm kịch được gọi bằng nhiều tên. Do con người bịa đặt. Nhưng rốt ráo, vẫn chỉ một khuôn mặt,” người con gái nói tiếp.

“Và, chúng ta chỉ có thể có được cho mình, chia lìa làm điểm hẹn?”

Xe rời khu chung cư. Nhập lộ chính. Những bông hoa magnolia héo, rủ, giống những chiếc ly sứ làm bằng giấy cạc tông trắng, méo xẹo, úp ngược. Người con gái cầm tay người đàn ông, dịu dàng đặt tay lên ngực nàng: “Tội nghiệp em.”

Trái tim (hay ngón tay người đàn ông) đập, đập. Tiếng gõ buồn trên một khuôn cửa tò vò kín bưng, không khe hở nhỏ. Tiếng gõ mất hút. Chẳng âm vang. Tựa bên kia khung cửa là khoảng không hút, hút. Xe chạy chậm đuối xứa. Người con gái đăm đắm với, sớm mai hừng chân trời. Giọng nàng đều như tiếng máy nổ rù rì, hay tiếng lâm râm đọc kinh cầu nguyện mỗi tối. Những hồi kinh “lậy cha,” kinh “kính mừng.” Những hồi kinh đêm, ngày của ngoại, không đủ sức nâng, giắt tâm hồn xa thấp (u mê?) của đứa cháu bất hạnh, trên ba mươi năm làm người, tùy tiện. Đứa cháu chỉ ước một ngày sống bình yên. Một ngày cho những mơ mộng, khát khao có từ thời mới lớn. Những hồi kinh không đủ sức chuộc lại trái tim đứa cháu gái thoát, lìa tâm bão cuộc tình tay ba; rời, trốn vùng quỷ ám.

Người con gái tả hình ảnh bà ngoại, ngồi trên giường, đứa cháu ngồi dưới chân. Cụ không ngừng lần chuổi. Diểm xuyết giữa câu chuyện của cháu là, điệp khúc “ôi giời đất ơi,” tựa những dấu chấm bắt buộc một đoạn văn hoặc, nhịp ngắt cần thiết trong một bản nhạc, cho người ca sĩ lấy hơi. Chuyện kể, người con gái yêu một người đàn ông đã có gia đình. Người đàn ông mà, người con gái gần, xa cho bà ngoại hiểu đó là, một tình yêu lớn lao (bất trắc/ nguy nàn?) Là, kiếm tìm, chờ đợi ba mươi năm của nàng. Là, định mệnh (như hồi chuông báo tử?) thử thách nàng. Là, địa ngục, nàng quyết định bước tới. Chuyện kể nàng bị người đàn bà hiện chung sống với người đàn ông, làm nhục. Chuyện kể, nàng khổ sở, nhục nhã, nhưng không vì thế, bớt yêu. Cũng không vì thế, nàng muốn quăng bỏ, như quăng bỏ một món đồ cũ kỷ, cồng kềnh, hại nát…Ngược lại, đằng khác.

Ngọn lửa tình yêu/ đôi khi/ được thắp bởi chất hơi đốt tự ái nên, đạt được, cũng chỉ là thất vọng.

Câu chuyện, trước sau, được kể bằng giọng đều, đều (như tiếng máy xe rù rì chạy hết nổi) nhưng có lúc, ngoại nàng không thể (nhãng quên?) lập lại “điệp khúc,” “ối giời đất ơi,” mà, bỗng dưng bưng bộ ngực lép. (có lần nàng vén áo cụ lên, ngạc nhiên thấy ngực cụ có phần “tươi tốt” hơn xưa, nàng chọc:

“ấy chết! chueyn65 gì bất thường gì đấy?”

Cụ thản nhiên (giả bộ?) mặc đứa cháu gái vân vê hai đầu ti nhăn nheo, như vân vê hai núm cao su; chép miệng, vênh mặt:

“Lậy Chúa. Có gì đâu. Hễ khi béo ra thì nó cũng to ra ấy mà.”

Nàng kể, ông ngoại đi kháng chiến, không tin tức, khi cụ còn rất trẻ. Cụ ở vậy, nuôi bốn đứa con. Niềm hãnh diện của cụ là, tấm lòng chung thủy và, niềm tin được vào Nước Chúa. Đứa cháu gái xinh xắn, lớn lên tron tàng rợp hắt hiu của ngoại cùng, tình thương yêu cay xé của cha, nên, ở quê người, nó nhìn ngoại, như đôi vai êm ả, tin cậy nhất để ngả đầu. Nó không muốn đấu (hay cần phải nói vì không có ai để nói?) một chuyện gì.

Nàng kể:

“Ngoại bảo, ngoại không muốn em gặp anh. Ngoại không muốn thấy em đọa địa ngục. Dù em biết, chẳng có một nơi chốn nào khác, cho em, ngoài nơi chốn kia, sau cảnh đời này,” người con gái kết luận.

“Em phải trốn đấy. Em nó dối ngoại, em lên thăm Ngâu. Ngâu sắp lấy chồng. Nó cần em. Em phải gặp nó, một lần, trước khi nó thuộc về kẻ khác. Dù sự có mặt của em, biết đâu chừng, lại chả giống con quạ đen, loan báo điềm dữ…”

Người đàn ông bật cười với những tiếng “đấy” và, ví von thậm xưng, tự nhận. Chàng không thể không hôn (cắn) đôi môi lúc nào cũng cong cớn, như bông loa kèn, chỉ nở một cánh.

“Ngày nào, tới phiên em. Ngâu cũng cần gặp em, trước khi em thuộc vể kẻ khác. Và, khi đó sự có mặt của Ngâu, giống như con…gà, báo điềm lúc nhúc…?”

Người con gái không cười. Mặt nàng không ánh chút niềm vui, như người đàn ông đinh ninh. Nàng xụ ra. Búp loa kèn cúi xuống. cánh nở, chẳng nhờ vậy, mà, khép được đôi chút.

“Em thuộc về kẻ khác, Ngâu biết liền. Ngay khi em loan tin, gặp anh…đấy, nó bảo, mi sẽ khổ. Giờ đền tội điểm rồi, con ạ.” 

“và, em tin?”

“Không,” người con gái trả lời, quả quyết.

“Như anh không tin, em cần, em tha thiết, em khát khao hơn anh, nhường nào…Như ngoại không tin em lên đây, chỉ vì Ngâu. Và, ngoại cũng chẳng biết phải làm gì khác hơn, cầu nguyện cho em, gượm về địa ngục…”

Sương tiếp tục búng những hạt bụi nước lên mặt cỏ. Cúc dại, như những chấm sơn vàng vấy lên nền vải xanh, đệt bằng sợi bố.

Con đường Pointsettia. Không một dấu vết cho thấy hai bên đường hẹp, trước đây, từng có sự hiện diện của cây nguyện quế. Một bên, sâu trong, con đốc thoải, dẫn ngược lên ngọn đồi cao. Dăm cây xuân đàng, sừng sững, chằng chịt gân gỗ nổi vồng, tựa những cánh tay bằng xi măng, đắp thêm, chứ không liên hệ gì với gốc. Một bên, ruộng dâu tàn, đã cày xới, đánh luống, cho mùa gieo hạt đậu phộng (?) hai nhân vậ dừng chân, ngồi xuống gốc cây gạo. Gai nhọn tua tủa chĩa ra, tuồng toàn thể thân cây được quấn bởi một miếng da thuộc, màu ngà voi, ghm sẵn hàng đinh sắt. Họ e dè, ngồi xuống.

Nhân vật một: “Anh thường lui tới chỗ này?”

Nhân vật hai: “Rất họa hiếm.”

Nhân vật một: “Nghĩa là có.:

Nhân vật hai:

“Ừ.”

Nhân vật một: “Với ai?”

Nhân vật hai: “Chết rồi.”

Nhân vật một: “Như em một ngày nào?”

Nhân vật hai: “Ai nói?”

Nhân vật một: “Đâu nhất thiết phải uống hết nước, mới biết biển mặn.”

Nhân vật hai ngó lơ ngọn đồi. Nơi những cây xuân đàng đứng bóng. Gió lay, giựt như nhắc nhở những chiếc lá to bản lì lợn chưa chịu rời cành.

Nhân vật một bứt, bứt một cách khó khăn những ngọn cỏ ngắn.

“Trong anh, dường chỉ có chỗ cho những người vắng mặt?”

Nhân vật hai: “Với người chết, không ai làm được điều gì khác hơn thinh lặng.”

Nhân vật một: “Cả những cái chết làm sạch trong môi trường ta thở?”

Nhân vật hai: “ Thử nghĩ, không có cái chết, đời sống sẽ ra sao? Thú vật hay con người, chỉ khác cách sống.”

Nhân vật một: “Gọi được là đời sống chăng (?), một người sống đời-sống-chết?”

Nhân vật hai: “Còn tùy…”

Nhân vật một: “Thí dụ em?”

Nắng liu điu dưới cánh bầy ngỗng trời, trôi lặng lẽ như đám bông gòn, nếu không có đôi ba tiếng kêu lơ đễnh, thất thần, rớt xuống.

Nhân vật hai quay lại, tuồng muốn tìm hình ảnh mình trong đôi mắt như hai hạt nước mâu, xẫm:

“Em chuẩn bị xa anh?”

Nhân vật một: “Không. Trái lại.”

Nhân vật hai: “Như thế nào?”

Nhân vật một: “Mang em đi.”

Nhân vật hai: “Lúc này?”

Nhân vật một: “Vâng. Ngay lúc này.”

Nhân vật hai: “Đi đâu?”

Nhân vật một: “Nơi của anh.”

Những tấm nylon kẻ từng ô lớn trong ruộng dâu, hắt xuôi dòng nước sáng (ảo giác) vào cạnh kia luống đất; tron lúc những cây xuân đàng ôm rịt chiếc bóng sao cho khỏi tuột lăn đáy dốc.

Để tăng thêm sức đẩy, trọng lượng cho quan điểm của mình, nhân vật một tiếp: “Không phải lúc nào em cũng có được sự liều lĩnh.”

Gió giữ khoảng cách, tốc độ một cách khá chính xác trong nỗ lực rao truyền tiếng hú, rền của những cánh rừng khuất mặt đâu đó (thay cho câu trả lời?)

Nhân vật một: “Không lẽ anh là người xô em xuống vực thẳm?”

Nhân vật hai, chậm rãi, từng tiếng:

“Em quên, kẻ đào huyệt chôn ta, chính là những người thương ta nhất?”

Nhân vật một: “Trong khi ta lại chẳng biết trước điều gì, đời mình?”

Nhân vật hai gật đầu:

Nhân vật một: “Và, ta đang cùng đường?”

Nhân vật hai: “Trước mặt hay sau lưng, hiểu cách nào, vẫn là đường gạch thẳng.”

Nhân vật một: “Đường thẳng là đường nối liền hai điểm…”

Nhân vật hai: “Đúng vậy, Cảm ơn em.”

Nhân vật một: “Tội nghiệp em…”

Nhân vật hai tránh, không nhìn lâu đôi mắt đứng tròng, giọng bất lực:

“Thế nào, cũng có một ngày…”

Nhân vật một, lập lại: “tôi nghiệp em.”

Nhân vật hai, lạnh tanh: “Anh chờ. Vẫn chờ. Từ lâu.”

Nhân vật một: “Anh.”

Nhân vật hai, cố gắng làm ra vẻ dịu dàng bưng mặt người con gái; giữa lúc những giọt lệ bật, lăn khỏi đôi mắt đứng trong, vẫn mở.

Nhân vật hai: “Đừng khóc.”

Nhân vật một: “Phải anh đã quyết định?”

Nhân vật hai: “Không.”

Nhân vật một: “Lúc này?”

Nhân vật hai: “Luôn lúc này.”

Nhân vật một: “Anh dối lòng?”

Nhân vật hai: “Thiệt.”

Nhân vật một: “Chắc thiệt nha.”

Nhân vật hai: “Ừ. Đứa nào nói láo…”

Nhân vật một nhỏm dậy: “Em tin rồi,” Cười toe. Nụ cười của đứa con nít, quen vòi vĩnh, “ta về đi.”

Nhân vật hai: “Về đâu?”

Nhân vật một: “Nhà mình”

Nhân vật hai: “Nhà mình?”

Nhân vật một: “Bộ không phải?”

Nhân vật hai: “Phải chứ. Tại sao không?”

Họ về nơi chốn mà, cả hai cùng muốn gọi đó là “nhà mình.” 

Căn phòng. Gió rít qua những khe cửa sổ trên cao, gần sát mái. Ý niệm thời gian mất tiêu, như cố gắng không thành trong nỗ lực hình dung cuộc gặp gỡ người con gái đã không cá tính/ dung nhan, còn kệch cỡm với những câu nói vô duyên, trật búa của cô, tôi chẳng  thể xác định điều gì làm tôi bật dậy? Tiếng sói tru/ bóng tối nhám/ ác mộng mịn/ mưa trịch thượng/ tay giận dữ (ai đó) gõ, đập xầm xầm, cửa chính? Tôi quờ quạng. Quyển sách. Chiếc gạt tàn. Bao thuốc lá. Quần áo. Bật lửa. Ly nước. Tô mì gói (ăn dở?)…Mỗi vật chạm tới, là, mỗi đánh thức cơn mệt mỏi mãn nguyện, niềm rã rượi êm ả, trong tôi. Làm như mỗi vật được nhận biết bởi những ngón tay, đều cùng lúc nhắc nhở tôi, về Kim. Tôi không thể quả quyết Kim rời khỏi (?) Kiem đã đi (bằng cách nào?) Kim còn đây (?) Có thể. Nhà tắm. Phòng khách. Sân sau. Lối xóm. Ý niệm không gian, với tôi lúc này, cũng mơ hồ y như ý niệm về những nơi chốn chưa hề (hay rất quen) tron ký ức. Cách gì Kim vẫn đâu đây thôi. Đâu đây thôi. Thiệt mà. Chẳng phải Kim mới ngồi đó sao?

Chẳng phải Kim vừa kể tôi nghe, những ngày ngồi thiền trong tu viện trên đồi gió? Định tâm chay trường, đã bước vào năm thứ hai. Những lời tán tỉnh xa xôi (không kém phần quyết liệt,) Của ông Thầy trẻ tuổi. Nhận xét, phát biểu của Duyên về đám  bạn trẻ quanh Kim, ở thành phố Blue Bonnette: Xưởng tranh của Tín. Ca đoàn của Phương. Sàn nhà của Bình. Những ngọn nến đỏ của Thúy. Tầng lầu thứ nhất, gnoi6 nhà giữa trang trại của Trọng. Buổi sáng sương muối. Hàng rào kẽm gai. Con ngựa ốm, bơ vơ (như tầu ngựa.) Tiếng hát của thanh-Giang và, chiếc lá mang về từ đảo Ga Lăng (lễ vật đính hôn ngày đám hỏi của họ.) Chiếc bánh sinh nhật của Lan. Hàm răng niềng chắc/ biểu lộ say đắm, dữ dội, bất cần/ những giọt lệ xốc nổi của Oanh, giữa chia tay phi trường/…Gì nữa? Già nữa nhỉ? Đúng rồi. Còn con sông chở buổi chiều ghen tuông, trôi dưới cây cầu bắc ngang bầu trời nhấp nhô những cột khói xám, và, ý thức rất buồn bã của Kim.

“Em hiểu, em phải chia xẻ niềm vui cho người khác.”

Chúng tôi chúng tôi vừa nghe lại, đọc cùng nhau một bài thơ cũ? Bài thơ nói về những tháng, ngày bắt đầu của tuổi ba mươi. Bài thơ, như một cánh cửa oan nghiệt, mở ra trong Kim một vùng (những vùng) nắng gió lãng mạn ướp muối, khi Kim mới đặt bước chân dậy thì, lên bậc cấp thứ nhất. bài thơ/ Kim/ Mười lăm tuổi giữa nội trú. Giữa tháng, ngày bắt đầu của những khám phá (mặc cảm, tự tin) nơi một thân thể, biến đổi; chuyển đậu từ sâu trong, tới những rung động, tưởng tượng, khát khao người khác phái. Một người nam không mặc mũi. Mà, nỗi nhớ tới, là run rẩy, thổn thức, muốn khóc.

Chẳng phải tôi vừa lắng nghe Kim nói về những cuốn sách “mê lắm,” “yêu lắm” của Kim? Những bản nhạc Kim thích. Những tiếng hát hợp và không. Nhận xét, phân tích từ Kim, nghe thôi, đủ thấy tận cùng cái hay hoặc, quá cừng cái ẹ. Có thể tấm lòng thiết tha, trân trọng tới kính cẩn/ trái tim mẫn cảm/ khả năng thẩm định, đánh giá thiên bẩm/ giọng nói ngọt (pha lẫn nũng, ngọng, dăm ba chữ đớt) của Kim; hoặc tất cả, cộng chung, đã mang sinh động, linh hồn, sức sống thôi thúc vào những ghi nhận ấy?

Chẳng phải Kim vừa lập lại (không biết lần thứ bao nhiêu)

“Kim mê chị A., chị ấy đẹp ghê chứ. Đẹp tới liêu trai đấy.”

“Kim cũng đẹp vậy?”

“Không có đâu. Kim đâu bằng chị A. Anh mê chị ấy lắm phải không?”

“Sao Kim hỏi vậy?”

“Trước khi gặp anh. Kim nghe không biết bao nhiêu chuyện về anh và chị A.”

“Người ta nói gì?”

“Người ta …người ta bảo anh và chị ấy bị…bệnh.”

“Bị bệnh?”

“Vâng”

“Sa-đích phải không?”

“Vâng. Kim xin lỗi. Ấy là Kim nghe người ta nói.”

“Có sao. Chính anh cũng nghe kia mà.”

“Nhưng Kim không tin. Kim chả tin tí nào.”

“Khờ vậy? Phải tin chớ.”

“Không. Một khi Kim không tin thì, chả ai bắt Kim tin được đâu.”

“Luôn anh?”

“Dạ, vâng. Luôn anh nữa…Nhưng…”

“Gì Kim?”

“Anh cón yêu chị A.?”

“Thắc mắc hay tò mò?”

“Kim muốn biết vậy thôi.”

“…”

“Kim hỏi, anh giận Kim không?”

“Không đâu. Làm sao giận con gấu đỏ?”

“Vậy Kim hỉ nữa đấy.”

“Ừ.”

“Có phải anh nhớ đến cái đêm…,không, tối đúng hơn. Tối nào đó. Tối chị A. bảo anh nhắm mắt lại đấy.”

“Nhắm lại?”

“Nhớ. Anh nhớ tại sao. Nhớ vì lý do gì A. bảo nhắm mắt…”

“Bộ anh không thích hả? Mà, phải nói thật đấy. Rất thật”

“Bộ anh ưa nói dối lắm sao? Để coi. Xem nào. Phải rồi. Có thể anh bị bất ngờ. Có thể anh không chờ đợi, lúc A. bảo, “mở mắt ra, quay lại.” A. đã khỏa thân. (Có thể A. mặc cảm bởi vết thẹo nơi bụng dưới.) Đúng, thân hình A. đẹp. Đẹp hơn tưởng tượng của anh (mà anh có tưởng tượng không kìa? Dường như không.) Không. Đúng rồi. Chưa bao giờ anh có một tưởng tượng nào về thân thể của A. Sau đó ư? Sau đó thì có. Có chứ. Nhưng này, muốn nghe tiếp không? Có hả. O.K. vậy cấm không được hỏi nữa. Đừng cắt ngang chứ. Cắt ngang làm sao nhớ kể tới đâu. Phải rồi. Sao? Bắt đầu lại hả. Ờ hớ. Thì bắt đầu lại. Bắt đầu, từ buổi chiều, mùa thu đấy. Trời tối sớm. Mưa nữa. Hay mưa lắm. Anh cũng chẳng hiểu tại sao năm đó lại mưa nhiều thế. A. kêu đói. Đòi ăn mì. Mì. Đúng rồi. Mì ở quán đàng hoàng. Không phải mì gói hay mì ly đâu. Sau nầy, cấm cười, A. kể ra khỏi nhà chưa bao lâu, thình lình anh đặt tay qua vai A. rối ngực A. A. sợ quá. A. run rẩy. Anh cứ. Rồi sao hả? Lại ngắt lời nữa. Thì sau đó, lấy tay về. Thì sau đó, hai đứa cùng ngượng. Cùng giả lơ. Vào quán, đèn sáng, rõ từng hạt mụn cám. Ngồi đối diện, không thể không nhìn nhau, còn ngượng bạo. Anh xin lỗi không hả? Dường như không. Không nhớ. Nhiều phần không…A. nói gì hả? Không. Chẳng nói gì...”

“Thì cũng giống như trường hợp Kim. Anh nhớ, anh đặt tay sâu nơi ngực Kim. Kim sợ toát mồ hôi. Kim giữ tay anh mà, ngu ghê đi. Giữ đó thôi, cũng cả phút. (Lậy Chúa, lúc hoàn hồn mới nhớ lấy tay anh ra)…Và, anh cũng có xin lỗi gì đâu. Anh chỉ thở dài. Hườm. Làm như anh buồn bã, chán nản đấy.”

“Có vậy sao?”

“Chứ anh không nhớ tí tị gì hả?”

“Không. Anh chỉ nhớ buổi tối, lúc hai đứa tìm nhà cụ Chỉ, anh ôm Kim dưới chân cầu thang. Lần đầu tiên Kim hôn anh trước. Lần đầu tiên Kim cho anh chiếc lưỡi lí lắt, chiếc lưỡi nhọn hoắt của Kim.”

“Ơ…Kim không thích anh nói vậy đâu.”


Chẳng phải tôi đã kể Kim nghe, lòng tôi sạch trơn (?), khi trả lời câu hỏi của A., “thân hình đẹp lắm” Tôi ngắm nhìn A. rất lâu, lúc A. ra khỏi vệt bóng tối do bóng tôi và bóng ghế kẻ xuống. Tôi kể, tôi bảo A. “Mặc quần áo vào. Đau đấy.” A. nằm nghiêng trên chiếc giường nhỏ kê sát vách. Ngó ra. Khóc. Tôi kể, tôi không thể đoan chắc ý nghĩa nằm trong hoặc, sau giọt lệ kia. Nhớ A. bảo, A mừng rỡ, thấy tôi không chụp, vồ A., như những người đàn ông khác. Những người đàn ông vừa thấy A. thôi, đã muốn ăn tươi nuốt sống nàng.

“Rồi…rồi bao lâu, hai người mới thật sự?”

Kim hỏi, mắt long lanh. Giọng nói nhanh ríu, tuồng xúm xít niềm vui thật.

“Không. Có đẽ không lâu lắm.”

“Lúc nào đấy?”


Chẳng phải Kim vừa hỏi tôi:

“Anh thích không?” khi Kim khoe ngực nàng? Đôi nhũ hoa căng nở. từ núm vú son tươi, vùng màu hồng tỏa rộng. Hình tròn to, ăn lệch phia dưới. Tôi nâng niu. Tôi vuốt ve. Tôi hôn, xong, bỏ áo Kim xuống. (Tôi muốn Kim hiểu, đã chẳng có một khác biệt đối xử nào, giữa Kim và A., dù, tôi chỉ muốn khác, khác.) Kim hãnh diện và xấu hổ. Kim hân hoan và hồi hộp. Kim tự tin và lo lắng. Kim có và không.Tìm đến và chạy trốn. Kim, ra sao, thế nào, có thể chính Kim, chẳng biết. Phần tôi, sau đấy, rất rõ, tôi thấy rừng cháy. Con sói buồn b4, hú khan một vầng trăng lạnh.


Chẳng phải chúng tôi vừa ôm nhau đó sao? Chẳng phải Kim a,61, nồng? Chẳng phải Kim nhiệt tình, trân trọng? Chẳng phải Kim hỏi:

“Có người sao anh?”

Tôi nói:

“Không đâu. Đừng sợ.”

Tôi nói. Tôi nói. Tôi nói. Nói. Nói.Nói.


Gió rít qua những khe cửa sổ trên cao, gần sát mái. 

Không một ý niệm không gian, thời gian, nhưng tôi lại biết, thật (tới sờ mó được) rằng, đã chẳng hề có bàn tay giận dữ nào gõ cửa. Đã chẳng có cơn ác mộng mịn (nhám) nào. Cũng chẳng có một sinh vật (hồn ma) nào, lẩn quất nơi đây. Rừng đã tro, than. Sói đã quay lưng, thôi tru đồi trăng, lạnh. Chỉ riêng mỗi biệt ly. Mà biệt ly ơi, sao biệt ly quá đỗi?



Đường ngôi không tiếng gọi


Những ngón tay mồ côi

Đường ngôi không tiếng gọi

Thơ dtl


Hơn một tuần nay, tôi thức/ ngủ bập bềnh trong hơi nước/ tiếng mưa rầm rập, quẫy đập, khua, lùng bốn phía. Nhiều đêm, giật mình, tỉnh giấc, không biết mình còn nằm trên giường, hay đã bị mưa trói (lọi xương tay, chân;) bốc bay băng băng bay qua những cánh rừng (ngọn đồi, vách núi,) ký ức.

Những buổi trưa quơ tay tìm nút đèn, tôi nghe đâu đó, dưới (bân cạnh/ trước mặt/ sau lưng?) chân ghế, dòng Santa Ana River cuộn cuộn, réo. Những thân nước đỏ, vàng, xanh, xám gầm thét dang tay nhồi, ném những cành gẫy, như những cây gậy (quên gắn hoa hai đầu) nhào lộn tít mù trong tay mấy co gái rực rỡ thuộc các đoàn cổ võ. Đài phát thanh không ngưng loan tin, từng giờ bước đi rung chuyển lòng đất của những trận Pacific storms. Những trận tập kích với ba mặt giáp công, bốn hướng tiến đánh. Thác lũ trèo, leo qua mặt thành đê, điều các dòng Russian, Napa, Petaluma, Eel. Smith, Van Duzen và Sacramento Rivers, ở miền Bắc. Cư dân sinh sống quanh các dòng sông này được lệnh di tản xa tầm bão vói. Người chết, lên con số chục. Nhà sập tới con số trăm. Thống đốc Pete Wilson, công bố “tình trạng khẩn cấp cho các quận hạt Sonoma, Lake, Tehama và Humboldt counties. Những chuyến bay tại phi trường San Francisco bị đình hoãn hoặc, hủy bỏ vĩnh viễn. nhà tạm trú, ở Garden Grove, do cơ quan Hồng Thập Tự quản trị, mở cửa cho nạn nhân bảo lụt. Những đoạn đường bị khóa chặt vì nước dâng cao, cây trốc gốc. Báo chí địa phương bảo, quận Cam đang rạp mình chịu đựng cơn thịnh nộ của trời đất, “tuần thứ hai, “hiệp ba”.” Ký giả Gary Robbins của tờ The O.C. Register, hôm nay, một cách văn hoa, gọi chung các trận Pacific Storms là “Mother Nature.”

Bà mẹ-thiên-nhiên phỉnh gạt tất cả mọi người, không trừ một ai, luôn những chuyên viên tiên đoán thời tiết. Ông viết, đất không chỉ úng thủy mà, ngay đầu tuần qua, khi những trận bão Pacific Storms bắt đầu, chúng đã tọng vào cổ họng những nhà tiên đoán thời tiết cả biển nước. Và, dụng cụ, dùng trong việc tiên đoán, chỉ cho họ cái nhìn loáng thoáng về sự chuyển động của bão nên “ forecasters have been wrong more than right.” Nhiều lúc tôi tự hỏi không biết mình đang ở/ đứng đâu? Bìa hay tâm bão?

Gần đây, tôi có cho mình nỗ lực thu dọn, sắp xếp lại (phần nào) những ngổn ngang, tung tóe đời sống. Tôi hiểu, biết ra, chưa hẳn đã là không thất bại. Nhưng co bóng, rút hình, ngồi lại, thì, hiển nhiên, nhìn nhận mình thua. Định tâm “chào thua” cuộc đời, “chào thau” cuộc sống, không hề mang lại tôi, chút buồn rầu, xấu hổ. (Tôi nào một lần thành công/ một lần chiến thắng?) Sống, tới/ lui cách nào, ở tôi, vẫn chỉ theo vòng quay thời gian; mà, mọi điểm khở, đều là quá khứ. (Tương lai: quá khứ sắp thành và, quá khứ: tương lai sẽ đến.)

Hơn tuần nay, tôi thức/ ngủ bập bềnh trong hơi nước/ tiếng mưa rầm rập, quẫy đập, khua, lùng bốn phía. Nhiều đêm, thức giấc, tôi không biết mình còn nằm trên giường hay, đã bị mưa trói (lọi xương tay,chân;) bốc bay, băng băng qua những cánh rừng (ngọn đèo, vách núi,) ký ức?

Những chiều quơ tay tìm nút bật đèn, tôi nghe đâu đó, dưới (bên cạnh/ trước mặt/ sau lưng,) dòng Santa Ana River cuộn cuộn, réo. Ngực sông vạm vỡ thở ngồn ngộn lượng phù sa đầu nguồn, lẫm, lẫm. Dễ trên mười năm, con sông khô quắt này, mới lại phục sinh. Hớn hở. Nó cuốn mang trong nó, nỗi cuống cuồng, thoát thai và; niềm ngậm ngùi: ký ức

Mưa chém gẫy một cành soan lớn, ném xuống, chận ngang lối đi hẹp. những cành lá lòa xòa đập nát tấm kính dầy cửa sổ. Đầu cành, chỗ bị chém tét khỏi thân, rung rung thớ trắng, tựa phần thịt bao quanh đã bị gió lóc hết. Không phải nàng (chiếc xe của nàng,) bơi trong dòng thác, xiet. Người con gái ôm tập sách, lội nước, chui dưới cành gẫy. Người đàn ông mở sẵn cửa, chờ. Chiếc dù trong tay anh, phật, phật, tuồng muốn giựt anh, văng lên,; nếu trên đầu, không là mái thấp. Họ ôm nhau. Khối nước mưa và, khối giá guốt. Người con gái quay nhìn dòng lũ ngập ngang thân xe, le lưỡi:

“Hón liều thật.”

Có thể người con gái muốn nói nhiều hơn, nhưng hai hàm răng không ngớt khua đập, rổn rảng. Người đàn ông dìu nàng vào phòng. Anh lua chiếc khăn bông lung tung trên đầu nàng. Mái tóc dài của người con gái xù ra, tựa đống den rối. Anh đưa quần áo khô của mình, cho nàng. Thân thể nàng nhăn, tái. Đôi núm vú vốn tươi hồng như son, cũng thâm lại. Nàng quên mắc cở, mặc chàng lau hộ những chỗ không thể cúi xuống. Người đàn ông chu đáo (tới tỉ mỉ,) không bỏ sót nơi nào. Anh hoàn tấc việc lau khô thân thể nàng một cách nghiêm chỉnh. Người con gái dường cảm được sự trong sáng trong công việc của người đàn ông. Nàng cười, hạnh phúc/ xúng xính/ trong bộ quần áo thùng thình của người đàn ông và, những giọt nước mới, đơm trên đầu ngọn tóc. Người con gái dùng chiếc khăn bông bao kín đầu, sau khi đã vét hết tóc lên cao. Nàng như con mèo ước mèm, còn phải đội đầu, một rổ bánh. Họ lên giường nằm. Chuyền tay nhau điếu thuốc. Nghe mưa chạy vòng, vòng. Họ tan trong nhau và, trong mưa, riêng mỗi.

Đó là mùa thu 83. Bậu mang Du, Như về San Jose, sau một mùa hè ở Pháp. Không một dấu hiệu, báo trước miền Nam California, sẽ trải qua những ngày bão, (sau này, thống ke cho hay đó là trận bão lớn có mức tàn phá cao nhất kể từ mười năm qua;) ngoài những trận mưa rào bất thường, buổi tối, mùa hè. Bất thường, như sự xaut61 hiện của Hón (nếu có thể nói được như vậy,) ở với tôi, chỉ trên dưới hai năm. Nhưng lại là một ở lại, vĩnh viễn. Ở lại, của một vết sẹo ký ức (không dấu vết.) Ở lại, của một ám ảnh (nhớ/ quên) thôi thúc âm, âm từng hạt nước. Tới bây giờ, tôi vẫn không hiểu giữa Hón và mau7, có một liên hệ bí mật nào? (Hay mưa là tiềm thức/ ký ức của vũ trụ (?) Và, tôi: tang trống thâu nhận/ khuếch đại một phần cảm âm từ ký ức vũ trụ kia? Luôn luôn, hình ảnh Hón, trở lại/ tô/ trong những ngày mưa. Như thể, mưa: chân dung thứ hai, mặt bên kia của nhan-sắc-cuộc-tình, một thời, hai đứa. Tôi cảm tưởng (luôn Hón,) có quên thì, mưa vẫn lẽo đẽo, đi bên (sống với/ ở lại bền chặt phái sau quá khứ) cuộc tình chúng tôi, mọi nơi chốn.

Phải, suốt một thơ ấu hiu quạnh, hình ảnh mẹ tôi mỗi sớm mai, đứng trên thềm, với chiếc lược sừng, chải mái tóc dài (hơn chiều cao của bà,) xuống bậc tam cấp, như vuốt ve (sắp xếp) một dòng suối, một hàng mưa là, ghi nhận (phân biệt) đầu tiên, tôi có được về người nữ (?) nên; những ngày mưa ở thành phố Seal Beach, (mỗi chuẩn bị ra về,) tôi yêu/ thích biết bao ngắm nhìn mái tóc dầy, đường ngôi rẽ giữa của Hón? Những lúc Hón kín đáo rút trong túi xách chiếc lược tròn, tôi (cũng kín đáo) dõi theo từng cử chỉ, rừng  vuốt ve (sắp xếp) dòng suối, hàng mưa của nàng.


Seal Beach, ngôi quán đầu tiên, của hẹn hò thứ nhất, trước ngọn nến hồng, Hón thẹn thùng, kể chuyện mùa nước dâng ngập chợ Lồng, Ba Xuyên. Nàng được đi thuyền, theo mẹ dự những phiên “chợ nổi.” Lớn chút, biết mắc cở, không còn tắm mưa, không thích “chợ nổi,” Hón có nhiều ngày trên tầng lầu ba, thả hồn xuống thấp; mặc nó vun vút trôi theo thác lũ, tới chân trời lạ, xa nào, hút, hút. Chân trời tở mở những tưởng tượng/ rung động/ khao khát dậy thì. Những ngày mưa (dậy thì/ thiều nữ)

Hón hạnh phúc trốn học, mặc áo tơi, lội nước, vào quán cà phê, tập làm người lớn với thuốc lá (và toan tính) viết văn, làm thơ…Hón bảo, Hón có hai đời, biệt lập. Đời sống trong gia đình: đứa con gái ngoan ngoãn (rất được cưng chiều;) và, đời sống ngoài tấm mắt quan sát của cha mẹ. Đời sống một “thằng con trai,” hoang vu, ngổ ngáo, nổi loạn (mơ hồ.)

Phải, suốt một thơ ấu hiu quạnh, hình ảnh mẹ tôi mỗi sớm mai, đứng trên thềm, với chiếc lược sừng, chải mái tóc dài (hơn chiều cao của bà) xuống bậc tam cấp, như vuốt ve (sắp xếp) một dòng suối, một hàng mưa là, ghi nhận (phân biệt) đầu tiên, tôi có được về người nữ; nên, những ngày mưa ở Ranchero Way, Garden Grove, tôi yêu/ thích biết bao, ngắm nhìn mái tóc dầy, đường ngôi rẽ giữa của Hón?

Những ngày mưa (ký ức của vũ trụ) ở Ranchero Way, Garden Grove, lần đầu, buổi tối, trên chiếc ghế trải thành nệm giữa phòng, lúc tôi buông Hón ra, vừa khóc nức nở, Hón vừa, mặc lại quần áo. Hón bảo, những tưởng có thể giữ được lâu hơn, dù thấy nhau, lần thứ nhất, buổi tối, ngủ chung với chị Phóng, Hón đã kể cho chị nghe, hồi sáng, Hón mới gặp anh. Cái ông này lạ lắm. mắt ổng rất dữ, mặt mũi nhăn nhó, khó ưa, giọng nói cũng bủn xỉn, nhát gừng, như khỉ ăn phải ớt vậy mà, em lại muốn được gặp lại ổng…Hón bảo, chị Phóng đang nằm bật dậy, nhìn lom lom. Tựa chị chợt phát giác, người nằm cạnh, là một ai khác. Hón bảo, Hón không hiểu chuyện gì. Cuối cùng chị lắc đầu,thở dài:

“Tai họa đó em…Đừng gặp ổng nữa.”

Hón hỏi tại sao, chị biểu, khỏi hỏi, mai mốt khắc biết.

“Vì thế Hón trốn anh luôn?”

Hón gật đầu:

“Dạ. Nhưng chỉ được hai ngày. Anh quên rồi sao?”

Tôi nhớ chứ. Câu hỏi chỉ là đùa rỡn. Gặp lại Hón, lần thứ hai, buổi trưa, khoảng cách giữa hai cơn mưa, Hón đậu xe trước cửa, ùa vào, như cơn lốc. Tôi bước ra, đón với chút ngỡ ngàng, (dường Hón không quan tâm, chuyện nhỏ?) Hón bảo sáng giờ chưa ăn:

“Đói bụng, ngồi học không được…,” như thể, tôi, một thằng bạn, rất thân của Hón. Đang ăn, mưa quay lui. Cơn mưa sau, dữ dằn hơn. Hón nôn nao, bồn chồn dường muốn xông ra đường làm “người đi trong mưa gió.” Chở Hón về, tôi bảo mưa lớn, ở lại, rồi tính, (sau khi từ chối cùng Hón làm người đi trong mưa gió.) Lúc vào nhà theo thói quen, tôi đóng cửa, khóa trong. Hón nhợt nhạt, nhớn nhác.

Tôi bỗn hiểu, Hón hùng hổ, ngổ ngáo, che dấu phần mèo ướt của nàng. Để Hón ngồi một mình, nơi phòng khách, tôi vào phòng riêng. Tiếng sau, trở ra, Hón đã ngoẹo đầu, với tập vở che ngực, ngủ, sau sưa, hồn nhiên như đứa con nít. Tôi lấy chăn mỏng, đắp cho Hón. Tối đó, Hón ở lại, tình nguyện làm hộ tôi, bữa cơm tối. Khuya, còn mưa, đưa Hón về, tôi bảo “xe này, để lại đây, mai lấy.” Lúc chia tay dưới tàng cây vông đồng, đứng sát nhau, mùi da, thịt Hón đánh thốc vào ham muốn (bị đè nén,) tôi ôm (chụp) nàng. Hón không hcong61 cự, ngả đầu lên vai tôi khá lâu. Có thể Hón khóc.

Tôi hỏi:

“Lần gặp sau, Hón có kể cho chị Phóng?”

Hón gật:

“Có. Hón nói anh tưới trường tìm.”

Tôi bảo:

“nhờ vậy, chúng ta có được hôm nay.”

Hón cười. Nụ cười chệch choạc đi cạnh dòng nước mắt chưa hô kịp.


Những giọt lệ, như những ngày mưa, (ký ức của vũ trụ,) theo chúng tôi, khắp cùng nơi chốn. Hón không chỉ khóc, nơi lần thứ nhất kia. Hình như ở mỗi nơi chốn, mỗi hoàn cảnh, Hón đều muốn khóc. Ám ảnh khôn nguôi của Hón: một chia tay/ dứt lìa, thấy trước. Tôi không hiểu, tại sao, tôi không thể cho Hón một hứa hẹn, một thề bồi trăm năm, chung sống. Tôi không nghĩ, khoảng cách tuổi tác giữa hai đứa: chiếc thắng to lớn kiềm cứng cơn cao hứng (rất thường) trong tôi. Tôi không nghĩ, mối lo lắng về đời sống  hàng ngày, cảnh giác tôi mọi hứa hẹn. Như bậu, Hón rất giỏi. Hón tháo vát vượt xa tưởng tượng, chờ đợi của một người đàn ông bình thường, không tham vọng. Là người Triều Châu, thừa hưởng kinh nghiệm kinh doanh của cha mẹ, năng khiếu buôn bán trong máu, Hón kiếm tiền không khó. Hón lại nói được tiếng Tầu, từ Tiều, Quảng, Phước Kiến tới Quan Thoại…Hón thích tôi ở nhà, để một mình Hón làm ăn, giao dịch.

“có khi còn tốt hơn để anh ra ngoài,” Hón bảo.


Phải, suốt một thơ ấu hiu quạnh, hình ảnh mẹ tôi mỗi sớm mai, đứng trên thềm, với chiếc lược sừng, chải mái tóc dài (hơn chiều cao của bà,) xuống bậc tam cấp, như vuốt ve, (sắp xếp) một dòng suối, một hàng mưa, là ghi nhận (phân biệt) đầu tiên, tôi có được về người nữ; nên, tôi yêu/ thích biết bao, ngắm nhìn Hón chải mái tóc dầy, rẽ ngôi giữa trong những ngày mưa ở đường Pacific High-Way?

 

Những ngày mưa (ký ức vũ trụ) đoạn đường Pacific Highway, Long beach, trên tầng lầu thứ ba, ngôi khách sạn xây lưng vào bờ biển, một lần, Hón hoảng hốt kêu:

“Thôi anh…Hón có thai mất…”

Tôi muốn ngưng, nhưng chẳng thể. (Có đễ chính tiếng kêu hốt hoảng, thất thần của Hón, khiến tôi thêm kích thích?) Tôi biết mình không phải, không ra gì…Nhưng, lúc đó, tôi như con thú trong cơn động dục. Lát sau, nằm xuống, xoay nghiêng, tôi ngó Honq, đợi chờ giải thích. Hón dấu mặt. Mùi ân ái nồng gắt. Mưa gõ đều cửa sổ (không nhịp cùng nước mắt Hón.) Tôi xấu hổ, lóng ngóng lùa những ngón tay khô, trong rừng tóc nàng, gió lớn. Hón bảo, “không hiểu tạo sao, Hón cảm tưởng, lần này, có thể Hón có con…,nhưng, dường anh chưa, ít ra lúc này, sẵn sàng để có…con.” Tôi hỏi: “Ai nói?” Câu hỏi gượng, yếu, tựa hỏi cho có, (không lẽ im lặng xác nhận?) “phụ nữ, có những giác quan mà đàn ông không có…” Hón đúng. Tôi hiểu ngày mai,tương lai chỉ là quá khứ sẽ thành, Và, đứng ở điểm nào, nơi vòng tròn thời gian, điểm đó, với tôi, vẫn là ký ức.

Tôi, người tù chung thân của ký ức mình; như mưa, ký ức chung thân của vũ trụ.

Hơn một tuần nay, tôi thức/ ngủ bập bềnh giữa hơi nước/ tiếng mưa rầm rập quẫy đập, khua, lùng bốn phía.

Nhiều đêm, thức giấc, tôi tự hỏi mình còn nằm trên giường, hay đã bị mưa trói (lọi tay/ chân,) bốc bay băng băng qua những cánh rừng (ngọn đèn, vách núi) ký ức?

Đài phat1thanh không ngớt loantin cập nhật về các trận Pacific Storms. Trên làn sóng vô tuyến, sở cảnh sát chỉ dẫn dân chúng cách lái xe trên những đoạn đường ngập lụt/ nơi bán cát và bao dựng Home-Depots/ số điện thoại nhà tạm trú cho nạn nhân Bà-mẹ-thiên-nhiên (thiên tai.)

Những trưa quơ tay tìm nút đèn, tôi nghe đâu đó, dưới (bên cạnh/ phía trước/ sau lưng) chân ghế, con sông Sài Gòn, cuộn cuộn, réo. Ký ức. 


Phải, suốt một thơ ấu hiu quạnh, hình ảnh mẹ tôi mỗi sớm mai, đứng trên thềm, với chiếc lược sừng, chải mái tóc dài (hơn chiều cao của bà,) xuống bậc tam cấp, như vuốt ve, (sắp xếp) một dòng suối, một hàng mưa, là ghi nhận (phân biệt) đầu tiên, tôi có được về người nữ; nên, tôi yêu/ thích biết bao, ngắm nhìn Bậu chải mái tóc mun, đường ngôi rẽ giữa (con đường thẳng tắp xắn ngang cánh rừng rậm) cảu nàng, những ngày mưa trên tầng lầu hai, tòa building, đường Đỗ Quang Đẩu?

Sông Sài gòn, những ngày mưa bặt, bặt. Nước dâng cao, nối liền Thủ Thiêm/ bấn Bạch Đằng, mà, bị đánh tòe đầu, trước nhất. Mỗi gặp nhau họa iếm, mỗi ân ái nghẹn ngào, một lần Bậu ngất, khóc. Nước mắt Bậu làm sáng lên khuôn mặt trẻ thơ, đôi mắt suối biếc, dòng tóc đầu nguồn. Mỗi gặp gỡ của chúng tôi, thuở đó, là một nhắc nhở, một dặn dò chia tay, tận, tận. Những buổi trưa hiếm muộn, nằm với nhau trên căn phòng lầu hai, một building, đường Đỗ Quang Đẩu, tôi cahn65/ dấu xúc động mình bằng cách vuốt, vuốt mái tóc Bậu. Những vạt tóc trên vầng trán mười bảy; những vạt tóc trên ngấn cổ mười tám…thường đẫm ướt nước mắt. Những ngày mưa Sài gòn, nước sông Đồng Nai dâng cao, Bậu chao, chao như chiếc lá non/ yếu trên những chuyến xe lam bì bõm, khởi hành từ Thông Tây Hội.


Những ngày mưa lớn, (Bậu không được phép chạy xe một mình,) tôi đứng dưới hàng cây gỗ dầu, đường Trần Cao Vân, đinh ninh, Bậu không thể có mặt nơi bất cứ một chuyến xe lam kế tiếp nào; khi giờ hẹn đã đi qua; tôi thẩn thờ nghe gió chả mưa và, những chiếc lá to bản xuống lòng đường, (như chải/ trút nỗi tuyệt vọng sờ mó được của tôi xuống biển nước, chờ cống rãnh cuốn đi.) Tôi đổ lì, chờ chiếc lược gió (vô hình,) chải nốt những sợi tóc lá/ mưa xuống cảnh thổ hồn tôi úng thủy. Những trưa/ chiều mưa: Đỗ Quang Đẩu, Tour D’Argent, nằm/ngồi với nhau, nhìn Bậu rụt rè chải mái tóc mun, đường ngôi rẽ giữa (như con đường thẳng tắp, xấn ngang cánh rừng) tôi luôn tự hỏi, biết có lần khác? Những câu hỏi, như tóc Bậu, (như nỗi buồn trong một bài thơ Phan Khôi,) mỗi ngày mỗi dài ra…

Sài gòn. Những ngày mưa bặt, bặt, sông Đồng Nai cuộn, cuộn, reo hò nâng mực nước Rạch Kiếng lên cao, tràn ngập ngôi nhà sau cùng của chúng tôi, ở làng B.C., bậu đi học, dưới hiên, tôi lại được nhìn chiếc lược gió chải những sợi tóc mưa xuống đầu hàng cây tràm bông đỏ. Tôi lại có cho mình câu hỏi, cũ:

“Biết còn lần khác?”

Đó là thời gian cuộc chiến miền Nam đang đi lần vào hẻm cụt. Chẳng một ai, ngay những người trách nhiệm của cả hai miền, cũng không thể nói trước được điều gì?

Hơn một tuần nay, tôi thức/ ngủ bập bềnh giữa hơi nước/ tiếng mưa rậm rập, quẫy đập, khua, lùng bốn phía. Nhiều đêm tỉnh dậy, tôi tự hỏi không biết mình còn nằm trên giường, hay đã bị mưa trói (lọi tay, chân) bốc bay băng băng qua những cánh rừng (ngọn đèo, vách núi) ký ức.

Những trưa quơ tay tìm nút đèn, tôi nghe đâu đó, dưới (bên cạnh/ phía trước/ sau lưng) chân ghế, xon sông Hương cuộn cuộn, réo, ký ức.


Đó là những ngày mưa từ Phá Tam Giang về cửa Thuận An. Những ngày mưa ngược từ Thuận An, qua Phá vể tới Chợ Mai, Sông Hương, An Cưu…Huế, không còn lằn ranh. Huế, không còn đường phố. Huế, không còn nhà cửa. Huế, chỉ còn những cây cau ốm. Huế, chỉ còn những đỉnh nhọn ngôi thánh đường Dòng Cháu Cứu Thế…Và, Huế chỉ còn O Trạc, co gối, ngồi tù mù với những trang thư viết rồi khôn gửi được. Những năm tháng Trạc bước vào tuổi hai mươi, (cùng lúc với) gió chải những sợi tóc mưa, chông chênh rớt xuống đôi bờ vắng/ xa, thương/ nhớ, Trạc (cũng) chênh vênh chải mái tóc tương tư óng ả muộn phiền, xuống bậc cấp tình yêu thứ nhất; (như mẹ tôi vuốt ve (sắp xếp) ngọn suối sinh ký/ tử quy (hai mặt đồng tiền) tháp vào cuộc tình tuyệt vọng.)

Những trận mưa ngày/ ngày tháng/ tháng nhận chìm Đập Đá, có dễ nhiều thước sâu, tôi hình dung Trạc nơi ngôi nhà kẹt hóc lưng chừng đáy một ngã ba đường đất, lạch nước dâng mù mắt tre, những cụm bèo Tây bìu ríu nhau từ đầu nguồn, dạt tới, không biết Trạc còn nhớ đến mái tóc ẩm, ẩm mây xuôi. Những ngày làm thành gặp gỡ thứ nhất, An Cựu, đầu hôm/ sớm mai, tôi nhìn Trạc chải vội mái tóc hai mươi/ hăm mốt, như chải nỗi mắc cỡ, niếm hân hoan ngát, ngát xuống đôi vai lụa trắng. Những ngày làm thành gặp gỡ thứ nhất, đầu hôm/ sớm mai, Chợ Mai, tôi được nhìn Trạc chải vội mái tóc hăm mốt, hăm hai, như chải niềm rung động rợn, ngất; nỗi thao thiết vợ/ chồng xuống cửa lòng tân hôn thiếu nữ. Tôi nhớ chiều, mưa. Tôi nhớ đêm, gió.Tôi nhớ những ngón tay tôi lùa, xua nỗi niềm xót/ yêu mình, sâu trong mái tóc Trạc ẩm, ẩm mây xuôi.

Phải, suốt một ấu thơ hiu quạnh, hình ảnh mẹ tôi đứng trên bậc thềm, với chiếc lược sừng, chải mái tóc dài (hơn chiều cao của bà,) xuống bậc tam cấp, như vuốt ve, (sắp xếp,) một con suối, một hàng mưa, là ghi nhận (phân biệt) đầu tiên tôi có được về người nữ; nên, tôi yêu/ thích biết bao, ngắm nhìn Trạc chải tóc?

Sông Hương. Những ngày mưa (với tôi ngắn ngủi,) nhìn Trạc chải tóc cạnh (một đống) chị em gái như Thụy, Dị, Duyên, Xưởng, Sáu…, nơi cánh trái bàn thờ mà, phông chính là người mẹ lành như cục bột (trắng cũng như cục bột và, chúng tôi cùng gọi bằng Đẻ) ngồi nơi bàn gỗ chấn ngay cái cửa ăn thông xuống nhà bếp, tôi hạnh phúc (cười một mình,) cho rằng chúng tôi đã đánh lừa được hết thảy những “O” nổi tiếng tinh ma kia. Nhớ lại, đó là đêm An Cựu, tôi vuốt tóc Trạc trong bóng tối. Tôi cúi hôn nơi cổ nàng. Những sợi tóc măng thơm mùi mưa/ chiều/ Phú Bài, mùi bồ kết. Những sợi tóc mịn, như da thịt Trạc mịn. Những sợi tóc mượt, như tình yêu/ lòng khát khao tôi mượt, ướt. Nhớ lại, đó là tối Chợ Mai, chúng tôi có bàn tay nhau, mùi thịt da nhau (và mưa) ngoài hàng hiên. Nhớ lại, và hạnh phúc. Hạnh phúc ngây ngô, trẻ con, ngỡ mình đánh lừa được đôi mắt hau háu rình rập của mấy o hiền lành (như quỷ.)

 Sông Hương, Những ngày mưa. Những ngày mưa. Những ngày mưa/ mưa…Tôi không thể hình dung Trạc, chải tóc. Tôi cũng không dám đoan chắc, những ngày tháng mất tin nhau, Trạc sẽ chải tóc ẩm, ẩm mây xuôi của nàng, xuống bờ nào, nhớ/ thương: phía nào, chồng/ vợ; ngõ nào, chinh/ chiến.

Hơn một tuần nay, tôi thức/ ngủ bập bềnh giữa hơi nước/ tiếng mưa rầm rập quẫy đập, khua, lùng bốn phía. Nhểu đêm thức giấc, tôi tự hỏi mình còn nằm trên giường hay đã bị mưa trói (lọi tay/ chân,) bốc bau băng băng qua những cánh rừng (ngọn đèo, vách núi) ký ức?

Những chiều quơ tay tìm nút đèn, tôi nghe đâu đó, dưới (bên cạnh/ phía trước/ sau lưng) chân, con sông cuộn cuộn, réo. Ký ức.

Houston. Con sông như một dấu chấm than, tận cùng bằng cửa biển. Những ngày mưa, Houston, lênh láng nước. Nửa đêm, sớm mai, tôi chạy nhầu lộ trình xuôi ngược tìm Kim. Tôi tìm ký ức tôi/ Tuổi thơ tôi/ ngày tháng tôi/ và, mái tóc Kim ngắn. mái tóc không đường ngôi. Mái tóc như những dòng mưa chảy ngang một vành tai, buổi sáng, gió thốc xa lộ Mười. Những cánh rừng tulip. Ngọn đèn đỏ. Nước mắt xuôi. Dallas, đêm mưa. Dallas, môi thơm  rừng uất kim hương. Dallas, ngực mang lời thệ nguyện khản, nghẹn. Nỗi nhục nhằn, xanh. Niềm vui đen, những cánh chim tha chiều về núi.

Mỗi chúng ta, như một lát dao tự đâm lấy mình,” Kim nói. “Và, Kim quen rồi, nửa đời không ngày mai. Không tiếng gọi.”

Tôi phải làm gì (?) Tôi có thể làm được gì trước cửa thiên đường, đóng, và, địa ngục thênh thang?

Houston, con sông như một dấu chấm than mà, những ngày mưa, nước lên, như một gạch chéo chia lìa trời/ đất. Những đêm, tôi nằm trên tấm chăn mỏng, trải một góc phòng. Những tối, tôi nghe gió chải miết mưa xuống vai những hàng me dại, khu trường học, ngôi nhà đường Kingsway/ góc Travis, Kim hiện ra, như vầng trăng, vùng sáng duy nhất, nhỏ nhoi, giữa trùng trùng hơi mưa và bóng tối, trong mỗi buồn riêng, có xước mặt mày. “Một trong hai chúng ta, nên chết.” Tôi nhớ, đường một lần nào, bảo Kim, như vậy.

Đài phát thanh tiếp tục loan đi những tin cập nhật về mọi hoạt động, biến chuyển của những cánh tay bạch tuộc mang tên Pacific Storms. Hơi nước/ tiếng mưa quẫy đập, khua lùng bốn phía. Mọi xó góc thời gian/ ký ức lạnh, ẩm, âm, âm.

Sông Đáy, những ngày thơ ấu. Những ngày chiến tranh “tiêu thổ kháng chiến” chưa tràn qua làng tôi. Anh U. tôi chưa mất. Anh Q., chưa đi tham gia đoàn “thanh niên tuyên truyền.” Những sớm mai thanh bình, tôi theo các anh chị, ra sân vận động, tập thể tho, trước khi trầm mình, tắm trong dòng sông còn thở từng vồng sương muối.

Những ngày chiến tranh, gia đình tôi tan tác. Anh chị U., theo cơ quan về Nho Quan. Anh Q., đi Yên Mô. Tôi theo mẹ chạy tới Đồng Lạc, rừng Mơ…Rồi,từ rừng Mơ, Chạy ngược về Kim Bảng. Những ngày mưa, sông Đáy, nước dâng cao, đứng trên bậc tam cấp, nhìn xoáy nước cuộn cuộn, réo.

Những ngày mẹ tôi đi buôn: trục Phủ Lý/ Hà Nội, tôi trùm áo mưa, theo anh Dư, xuống bến sông gần, xem câu cá. Anh tôi bảo, những ngày mưa dầm, cá luồng, từ ngoài nguồn vào theo con nước, “câu giựt không kịp.” Tôi chưa một lần, được thấy tận mắt, sự “giựt không kịp” kia, của anh Dư, thì, đã ngã bệnh. Mẹ tôi từ Hà Nội về, hỏi nguyên nhân. Chị Vú phải khai thật. Cả anh Dư lẫn chị, lãnh một trận đòn, thừa sống thiếu chết. Từ đó, bến sông Đáy, những ngày mưa, chỉ sống trong khao khát, mơ tưởng cồn cào tôi. Ký ức.

Đài phát thanh tiếp tục đưa ra lời báo động “hiệp ba’ của cuộc tiến đánh ba mũi giáp công, bốn mặt tấn kích của bà mẹ-thiên-nhiên. Tôi quơ tay tìm nút đèn, nghe đâu đó, dưới (bên cạnh/ phía trước/ sau lưng) chân ghế, con sông cuộn cuộn, réo. Ký ức. 

Phải, suốt một ấu thơ hiu quạnh, hình ảnh mẹ tôi đứng trên thềm, với chiếc lược sừng, chải mái tóc dài (hơn chiều cao của bà,) xuống bậc tam cấp, như vuốt ve (sắp xếp) một con suối, một hàng mưa, là ghi nhận (phân biệt) đầu tiên tôi có được về người mữ; nên, tôi yêu/ thích biết bao, ngắm nhìn những ngày mưa/ Hà Nội/ chải miết hàng dương liễu (không đường ngôi,) xuống ven hồ Hoàn Kiếm?

Sông Hồng, Mùa mưa Hà Nội. Những ngày mưa bạt, bạt hàng sau961 dọc đường Hàng Vôi. Con đường bắt đầu từ ngã tư Hàm Long, dẫn qua vườn hoa con Cóc/ Ngân Hàng/ Viện Bác Cổ/ vườn hoa Chí Linh/ Ấu trĩ Viên…, có nhánh rẽ ra đê sông Hồng. Sông Hồng, những ngày mưa (trong trí tưởng non nớt của tôi, nước sông tựa được pha rất nhiều máu ngườ xưa, thần linh, kẻ thù, những trận đánh bằng thuyền độc mộc, thuyền đinh, thuyển chiến (từ những bài Việt sử bậc tiểu học,) cho tôi những câu hỏi thầm kín. Những câu hỏi, muôn đời không câu trả lời. Những câu hỏi về một thế giới khác.

Thế giới những đêm mưa phố Huế, Triệu Việt Vương..Tôi nằm ngủ giữa hai người đàn bà (hai thế hệ) góa bụa. Mẹ tôi và, chị U. Hơi ấm từ thân thể hai người đàn bà thân yêu, gần gũi nhất tuổi thơ, không đủ dỗ tôi ngủ. Những tiếng thở dài nén từ giữ trong ngực họ. Những trở mình sẽ sàng (không co kéo tấm chăn bông,) của họ, bao giờ cũng kèm theo hơi thở hắt, hiu trên nền đêm, lạnh đều tiếng mưa, từ mái hiên, thở xuống. Tuy quá nhỏ, hồi đó, nhưng tôi hiểu “chết”  là không trở về/ không bao giờ thấy nữa. Duy một điều, tôi không hiểu; nỗi buồn lúc nào cũng tươm ứa trong đôi mắt/ dáng ngồi/ thế nằm của hai người mẹ này. Tôi đâu biết, mưa, ký ức của vũ trụ. Và, con người: tội nhân chung thân ký ức mình.

Đài phát thanh loan tin nhiều nơi tạm trú cho thú vật, không còn chỗ. Những con vật được quan tâm, lo lắng…, nồng nhiệt, hăng hái không kém lời chỉ dẫn chi tiết, bí quyết sửa chữa khẩn cấp mái nhà dột. Tôi quơ tay tìm nút bật đèn, nghe đâu đó, dưới (bên cạnh/ trước mặt/ sau lưng) chân ghế, con sông cuộn cuộn, réo. Ký ức. 

Thu Bồn. Con sông chảy ngang, lụt lội một phần tuổi thơ tôi, những ngày đầu tiên, di cư khỏi Hà Nội. Ngôi trường tiểu học Nam, Hội An. Con đường Phan Bội Châu. Cửa hàng Thuốc Bắc của ông Xồi, ba chị Dụng. Căn nhà thăm thẳm ăn thông tới bến sông Thu Bồn. Những ngày mưa cuôi năm, Hội An, nước sông như đám giặc dữ, uồm uồm lăn lộn mình chiếm, xóa nhanh chóng từng miếng sân, tuần tự sau/ trước.

Phải, suốt một ấu thơ hiu quạnh, hình ảnh mẹ tôi mỗi sớm mai, đứng trên thềm, với chiếc lược sừng, chải mái tóc dài (hơn chiều cao của bà,) xuống bậc tam cấp, như ve vuốt (sắp xếp) một dòng suối, một hàng mưa, là, ghi nhận đầu tiên (phân biệt,) tôi có được về người nữ; nên, tôi yêu/ thích biết bao, ngắm nhìn chị Dụng chải mái tóc thề, đường ngôi rẽ lệch? Những ngày mưa Hội An, chị Dụng nghỉ học, cho tôi lên lầu, vào phòng riêng của chị:

“Để chị dậy Phá cách chơi bài cào. Tết này cho Phá chơi với chị…chịu không?”

Đương nhiên, tôi chịu quá đi chứ. Những ngày mưa Hội An, chị Dụng không chỉ dậy tôi cách chơi bài cào, xì lác.., cách tính điểm. Chị còn dậy tôi bao nỗi nhớ nhung, bồn chồn, bâng khuâng, lo lắng không duyên cớ, những giờ phải xa chị. Dường chị Dụng đã vô tình mở những cánh cửa rung động, ghen tuông mơ hồ trong tôi, qua những nựng nịu, ve vuốt, đụng chạm…Ngày đó, tôi không thể gọi tên, xác định đó là thứ tình cảm gì…Chỉ biết, chưa hết mấy ngày Tết, anh Q. đã lên đường ra Đà Nẵng. Đêm trước ngày chia tay, chị Dụng hẹn tôi ở cổng sau, chỗ cây khế. Chiếc cổng (cây khế) trông vào bến sông. Chị dúi cho tôi một chiếc khăn tay, bảo, khăn do chính chị làm. Chị đã bỏ nhiều ngày để rút bằng được, những sợi chỉ trắng và, luồn vào đó, những sợi chỉ xanh, đỏ. Chị bào, quý lắm:

Phá đừng làm mất. Cũng đừng cho ai thấy, chị  buồn đấy.” 

Không đợi phản ứng, chị Dụng hôn tôi, quay lưng đi, như chạy. Tôi đứng sững sờ, muốn khóc. Tôi nghe mình rưng rưng…Có dễ tôi cảm động vì “lưu niệm”/ lời dặn dò/ sự quay lưng của chị Dụng; hoặc ý nghĩa: chắc lâu lắm, phải nhiều năm nữa, (chừng lớn bằng anh Q.,) khi ấy, tôi mới được thấy lại chị?

Gần sáng, đang ngủ, bị lay dậy, tôi chỉ kịp thay quần áo, đi giầy và, để bị lôi xệch ra chiếc xe nổ máy sẵn. Mãi khi chiếc xe trở đầu ở khúc quanh gần chợ, ngang ngôi nhà đường Phan Bội Châu, một lần nữa, tôi nhận ra ánh đèn trên tầng lầu. Không thấy chị Dụng, nhưng tôi tin, chị đang nhìn theo tôi (chiếc xe?) cho tới khi nó chỉ còn là hàng mưa, mặc tình, rớt, rớt. Và, gió, như chiếc lược vô hình, chải dạt những sợi tóc mưa, rất nhỏ, vào hai hàng hiên tối…

Hơn một tuần nay, tôi thức/ ngủ bập bềnh trong hơi nước/ tiếng mưa rậm rập quẫy, đập, khua, lùng bốn phía. Nhiều đêm thức dậy,tôi tự hỏi mình còn nằm trên giường, hay đã bị mưa trói (lọi tay, chân,) bốc  bay băng băng qau những cánh rừng (ngọn đồi, vách núi) ký ức.

Buổi trưa, tôi quơ tay tìm nút đèn, nghe đâu đó, dưới chân ghế, con sông nào cuộn cuộn, réo. Những con sông chảy trên dưới năm mươi năm, nhưng  chưa một lần, chúng hỏi tôi đứng đâu (?) điểm nào (?) trong vòng tròn thời gian, nhồi, xóc. Ngay đường ngôi, cũng quên/ tôi/ từng xin: hay…gọi.



Hiểu Rất Rõ: Sống Làm Chia Biệt

Hiểu rất rõ: - sống làm chia biệt

Thiên thu khôn chạy thoát tình cờ

Thơ dtl 


Bóng tối nôn thốc tháo những ngọn gió nhọn và, những hạt nước li ti như bụi sắt lạnh, xóc dọc hành lang. Chiếc hành lang nâu nhám, dẹp, dài thượt, cho cảm tưởng phần giữa cong lại tựa chiếc lường đầy thịt, chưa đánh vẩy của một con cá lớn, bị xẻ dọc. Toàn khu, ngay mái và những cột chống bằng gỗ sồi cũng lại. Tôi vẫn nhận ra nét quen thuộc, thân thiết của nó (tuồng giữa nó và thân thể tôi có những nét đồng dạng rất thân quen.) Tôi vẫn nhận ra rặng găng giữa sân, bổ đôi khu parking, và, những cây nhãn dại cao vượt trên ngọn đèn thương xá. Tôi nhớ những đêm chờ X. đón về căn nhà/ tầng lầu cao/ khung kính chạy hết chiều ngang một vách tường/ ngó xuống miếng sân trồng những khóm hoa nhiều mầu và một lối đi trải nhựa, lở loét. Nằm đó, nhìn qua khung kính, tôi thấy được cảnh me dại, đập, xòe những đôi cánh nhỏ xíu, líu ríu như một bầy bướm đen không biết bay về đâu, làm gì cho hết đêm, bèn cùng nhau múa càn một bài luân vũ không đoạn kết. Những đêm gần như thức trắng, thầm kín trong tôi, là những  vỗ đập dịu dàng, kín đáo của đôi mắt Trạc (đúng hơn, những  bóng lá in xẫm nơi tròng mắt nâu nhạt của Trạc;) khi chúng tôi đứng với nhau dưới tàng nhãn dại, trước và sau mỗi lần Trạc trình diễn. Những thăm hỏi nín, lặng/ vỗ về, an ủi không thanh âm/ bàn tay Trạc/ dưới gầm bàn/ và tiếng hát/…(vỗ đập thầm kín trong từng hạt máu rạo rực tôi) đã điềm chỉ rằng: chẳng cách nào chúng tôi có thể khác hơn. Cách gì, tôi cũng chỉ là một con tin tội nghiệp trong canh chừng nghiêm ngặt của X. Cách gì, Trạc cũng không thể ra khỏi chiếc bóng quá lớn của những tấm huy chương mang tên hy sinh/ đức hạnh/ gương mẫu/ cao cả (!?) Dù chỉ Trạc, mình Trạc ngày, đêm phải thường trực đối diện với mặt trái sần sùi của những huy chương đó. Không thể biết Trạc sống được với những tiếng khen miệng đời, những phần thưởng nhân thế, bao lâu. Cũng không thể đoán trước thời điểm nào, hồi chuông báo tử cho cuộc tình tôi và X., sẽ điểm. Điều quan trọng, nên nói: tôi và Trạc cùng đồng ý: không nên đi xa hơn, ngày nào câm, lặng kia chưa bị phát giác.

“Mỗi chúng ta hãy sống với vết thương mình, từng ngày, sẽ lớn.”

Trạc nói: Tôi hiểu, nỗi lo sợ, sự đắn đo, ngập ngừng, mặc cảm của Trạc (hay của chính tôi, một ngày nào, bị lột trần truồng trước mặt X. và, Phú.) Tôi hiểu, không ai là đối thủ tương xứng với X., trong những cơn ghen và thủ đoạn bất cập của nàng. Tôi hiểu, rất chân thành, cả Trạc và, tôi cùng tội nghiệp Phú. Phú như một cây tầm gửi nơi Trạc. Một thứ tầm gửi không có cả giây leo và chiếc lá. Không kể những lúc ghen tuông bóng gió, Phú là đứa con ngoan, người phụ việc mẫn cán, đáng tin cậy nhất của Trạc. Hơn thế, Phú còn là tình yêu thứ nhất của Trạc, khi hai người cùng còn rất trẻ.

“Nhưng, mục tiêu hôn nhân của một người nữ, có phải chỉ là một người chồng ngoan ngoãn, người quản gia tin cậy, hay kẻ phụ việc mẫn cán?”

Một lần, Trạc hỏi? Tôi không có câu trả lời. Rất nhiều câu hỏi của Trạc, tôi không trả lời được. (Nhưng câu hỏi, cho riêng Trạc, nhưng đôi khi, cũng cho tôi.)

Có những câu hỏi, chờ đợi một trả lời. Nhưng cũng có những câu hỏi, được nêu ra, như một thú nhận rụt rè/ bất lực.

Đó là những đêm tôi đem theo những câu hỏi (hai mặt,) cùng đôi mắt lốm đốm những bóng lá nhãn dại in thẫm nơi đôi tròng nâu nhạt của Trạc về nơi chốn của riêng tôi. Nhiều buổi trưa, sau gặp gỡ với Trạc, tại ngôi quán trên đường Trạc đi làm, Trạc nhắc:

“Hãy cho Trạc một định nghĩa về con người. Một định nghĩa khác hơn, ta đã có.”

Tôi không có một định nghĩa nào cho Trạc, ngoài linh cảm một điều gì, giống như biệt ly kề cận (hay tự vô thức, tôi đã toan tình cho mình biệt ly kia?)

Tôi nhớ những sớm mai, khu thương xá đẫm ướt như người phụ nữ đem nguyên thân thể ũng nước của mình ra khỏi phòng tắm. Đó là những đêm mưa sợ không ai biết đến sự hiện diện của mình, mưa cố tình kéo dài, tới sáng; hay những ngày, mùa thu, sương đọng không thua bao nhiêu một trận mưa nhỏ. Những sớm mai hiếm hoi trong sinh hoạt nghịch thường của đời sống, tôi thường tựa cột, nhìn theo người Mễ Tây Cơ lái chiếc xe cụt ngủn làm sạch sẽ thương xá. Những tia nắng đầu ngày thắp bẽn lẽn trên mái bằng của những chung cư lân cận, cùng ánh sáng vô duyên của lũ đèn đường bị ai đó ngó lơ, quên tắt. Tôi tựa cột chờ chiếc xe quen thuộc của Trạc. Chiếc xe từng mang lại cho tôi: hân hoan và, hổ thẹn. Tôi vẫn chờ đợi ngày Trạc bày tỏ sự thất vọng trước những nhu nhược, khiếp sợ tới rúm co người, của tôi, trong những cơn điên, X. Tôi biết chứ, cách gì Trạc có thể chịu đựng dài lâu, khi Trạc không chỉ đóng kịch lúc gặp X./ đóng kịch lúc Phú chờn vờn/ mà, Trạc còn phải đóng kịch trước mặt bạn bè, của chúng tôi và của riêng hai đứa.

“Nếu cuộc đời là một vở tuồng thì chúng ta là những diễn viên đáng được trao cùng lúc, cả hai giải: xuất sắc và kém cỏi nhất. Anh biết tại sao không?”

“…”

“Tại chúng ta sống tận tình với vai trò. Ngay trong miếng ăn, trong giấc ngủ. Và, chúng ta lại không được đọc trước kịch bản, để biết hồi kết thúc.” Trạc nói lúc đưa cho tôi bàn tay lạnh buốt của nàng dưới gầm bàn và, những giọt lệ nóng, cho riêng Trạc. Tôi bảo:

“Phần thưởng mà người nào cũng chờ đợi, ít ra một lần trong đời họ, là được sống như ngọn giáo ném tới. Kẻ nào, trong chúng ta cũng thủ sẵn nơi trái tim, trong vô thức mình, một hay nhiều ngọn giáo. Tiếc, chẳng mấy người có đủ can đảm (hay nhút nhát) phóng đi ngọn giáo đó.”

Trạc nghiêng sát tuồng cố tình cho tôi ngửi mùi tóc gội. Tôi nhận được cùng lúc mùi shampoo và mùi dạ lai hương trên đôi môi (lúc nào cũng một mời mọc xa vắng) và, vồng ngực, nhỏ.

“Nhờ đó, chúng ta có thơ? Âm nhạc? Truyện ngắn?”

Trạc hỏi.

“Hoặc nó chỉ nói lên sự thất bại của văn chương, của âm nhạc, thì cũng thế.”

Dường mỗi xáp lại, mỗi gần nhau giữa tôi và Trạc, là một xáp lại của một đôi bạn chân tình, của tri kỷ xót xa, tội nghiệp mình, hơn tội nghiệp bạn. Sự thâm hiểu tâm hồn nhau, nơi chúng tôi, tới độ, có lần X. buộc miệng:

“X thấy lẽ ra Trạc phải được dành cho anh thì đúng hơn dành cho Phú.”

Tôi cảm nhận được khá đầy đủ những chân thực trong giọng nói X. Mặt khác, tôi cũng nhận được khá rõ, cái tín hiệu mang ý nghĩa cảnh cáo trong mấy lời ngắn gọn ấy, dù X., chưa cho thấy một nghi ngờ nào nơi tình anh em, giữa tôi và Trạc. Tôi lập lại nhận xét của X., với Trạc. Tôi nghĩ Trạc sẽ vui. Nhưng không. Trạc im lặng. Dường trong Trạc có những duy nghĩ lal lung; hay Trạc cân nhắc lại bài toán riêng. Mà, câu hỏi của X., như một phép thử lại sự chính xác của kết quả. Tối đó, Trạc hát, lần đầu tiên, cho tôi nghe “Sombre Dimanche.” 

Bài hát này, tôi nghe được từ những ngày còn rất nhỏ, nơi chị Băng.Thuở dậy thì, thời con gái, của chị.Thời gian này, gia đình chúng tôi mới từ Đà Nẵng dọn vào Sài Gòn. Chị Băng chia tay với người bạn cùng lớp, anh C. Sau, khi chị em xa nhau, tôi rời ngôi nhà bên lề đường Trần Hưng Đạo, mỗi khi nhớ chị, tôi có tự hỏi, phải chăng giữa chị và anh C., đã nhen nhúm một tình yêu? Hay chính chia ly đột ngột, làm thành tình yêu nơi họ. Cũng có thể, sự vắng mặt của anh Q. tôi mà, những mơ mộng, lãng mạn nơi chị Băng có được khoảng trời xanh cần thiết để thở. Lúc, anh Q. tôi đi Pháp.

Bước vào tuổi mười hai, tất cả những ghi nhận của tôi về đời sống, chẳng có gì khác hơn những vết chia lìa/ cứa sắc. như thể cùng với sự vỡ tiếng, nhổ giò ở tôi, là những ngọn roi biệt ly vụt đập tưa, rách tâm hồn. Biệt ly thứ nhất, khiến tôi muốn ngất đi, không phải là cái chết của anh U., tôi mồng ba Tết, năm tôi lên sáu. Dù hình ảnh nửa đêm, mẹ tôi quỵ ngã dưới chân một cánh cửa lim khổng lồ nơi ngôi nhà ở cạnh bến sông Đáy, khi người đập cửa cho tin anh U. tôi đã chết, vẫn là hình ảnh chói gắt nhất thơ ấu tôi. Dẫu sao, thời đó, tôi cũng còn quá nhỏ, để hiểu thế nào là “tử biệt sinh ly.” Nhưng ở tuổi mười hai, khi chị O/, tôi đứng lại như một đụn đất mối đùn đen thui nơi đầu ngõ ngôi nhà chú dì H., ở Hải Phòng, khi chiếc xe jeep của anh Q., chở hết gia đình, chúng tôi ra một con tầu xa lạ nào, đưa chúng tôi tới một nơi, cũng lạ hoắc nào, mới chính là chia ly bật máu thứ nhất, ở tôi. Hình ảnh này bám lấy tôi, như những mụn nhọt đã được khoát, cắt, mà, lỗ hổng để lại, vẫn không ngớt lên mủ.

Những ngày ngơ ngác ở Đà Nẵng, tôi gặp lại anh Dư tôi, sau đinh ninh không bao giờ còn có thể gặp nữa. Tôi thấy lại anh, cũng thình lình như sau đó không lâu, anh bỏ đi, thêm một lần nữa. Giống tay giang hồ, anh chị thứ thiệt, sau những chuyến ăn hàng, những trận thư hùng tranh ngôi vị, thân xác đầy thương tích, tôi nín lặng, kín đáo, tự điều trị vết thương mình. Những vết thương chưa kịp kéo da non, tâm hồn tôi đã thọ lãnh những lằn roi biệt ly bằn bặt. Anh Q. tôi, đi xa. Tôi sống u ám giữa những chiếc bóng lầm lũi, buồn thảm của một mẹ tôi, nhờ nhà cửa, mồ mả…; một chị Q. tôi, lạ nước lạ cái, ôm con, nhớ chồng, mù mịt. Tôi sống với hình ảnh chị Băng, ngọn cây non, quá non, gập mình trước những ngọn gió tương tư, chia lìa mới chớm…

Hình như bài học đầu tiên, tôi học được từ đời sống không là các cánh cửa mở vào những chân trời hứa hẹn một bình minh rạng, ngát. Hình như bài học đầu tiên, tôi học được từ đời sống, tự gốc, đã là những chia lìa/ đứt đoạn/ hút hút/ những lở dở, chông chênh những ngổn ngang nín, nín.

Đó là những chông chênh ngổn ngang, sờ mó được của mẹ tôi, chiều, đông. Dù, đứng ngồi cách nào, những mâm cơm được dọn ra trên bàn hay dưới chiếu, cũng không che dấu được sự thưa thớt mặt người, mỗi ngày một thêm trống hoác. Có những bữa ăn, mẹ tôi chống đũa nhìn ba đứa con còn lại, như nhìn xuống lòng bà, sinh đẻ, cá thẩy, mười hai lần. Sót rớt lại bảy. Sáu. Rồi năm. Rồi bốn. Những đứa con tốt lành (theo cách nói chắc nịch của bà) lần lượt bị ông trời bắt đi, sau khi ông trời đã bắt đi của bà người chồng “tốn vải ăn no lại nằm,” lúc bà còn rất trẻ. Trách chồng hư hỏng, không được tích sự gì, nhưng tôi biết (vẫn theo cách nói của bà) thì, đó lại là người đàn ông mà me5toi6 chẳng ao ước gì hơn: tiếp tục tốn vải, tiếp tục cơm bưng nước rot1, thêm nhiều đời nữa, cho ông. 

Đó là những ngày mưa dầm ở miền Bắc, lão tặc thiên dở dói, dâng nước sông ngập con đường lát đá, ngập sân nhà. Mưa chặt chân, cột tay mẹ tôi. Bà phải ngưng hết mọi công việc. Những ngày mưa ấy, bà ôm tôi vào lòng, tựa ôm ấp một nỗi ngậm ngùi, niềm bất hạnh cố quên, chẳng đặng. Bà hát những bài hát ru, chính tôi, đã lâu, cũng không còn dịp nghe nữa. Tôi không biết khi hát lại những bài hát, từng ru không dưới mười đứa con, mẹ tôi có điều gì trong đầu? Hiển nhiên, mẹ tôi không có ý định  ru cho tôi ngủ. Hiển nhiên, mẹ tôi cũng không có ý muốn dạy cho tôi những bài hát đó…Tôi nhớ, cùng với nhịp rung, lắc tới, lui như đưa võng của bà, tôi nương theo để hưởng cái lắc lư tới, lui đó. Điểm xuyết giữa các bài hát ru, là tiếng thở dài của mẹ tôi. Tiếng thở dài của bà, tôi thấy, dường dài hơn sự thành hình rồi tan đi của những chiếc bong bóng nước. Thuở ấy, tôi ngưỡng phục mẹ tôi biết dường nào. Tôi không biết ai đã dạy cho mẹ tôi nhiều bài hát ru đến thế. Rất nhiều lần, tôi thiếp, ngủ trong lòng bà. Lúc giật mình tỉnh lại, tiếng ru của bà, vẫn còn chưa dứt. Khác chăng, lúc đó, ngoài tiếng ru của bà, vẫn còn chưa dứt. Khác chăng, lúc đó, ngoài tiếng ru xa vắng như vọng âm của tiếng mưa đều đều thở bốn phía, tôi còn nhận thêm được những giọt nước mắt không biết chảy tự lúc nào, đẫm ướt đôi tay áo. Khác  chăng, lúc đó thay vì nương theo những dịp lắc lư, lui tới của bà, tôi lại trân mình trong nhịp rúng động từng hồi của mẹ tôi; với cảm giác cả một thân thể mềm, nặng đang đè, chĩu lên tôi. Những lúc như thế, dù đã tỉnh lại, dù rất muốn vùng vẫy, để thoát khỏi cái sức nặng và sự ghì xiết kia, tôi lại làm bộ như vẫn còn ngủ, thiếp. Tôi cũng chẳng biết điều gì khiến tôi không thể làm khác? Lớn lên một chút, biết quan sát, suy nghĩ hơn, tôi hiểu, đó là những giây phút đời sống cho phép mẹ tôi được sống với hình ảnh/ kỷ niệm chiu chắt, dành cho người đàn ông “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” của bà.

Hình như bài học được từ đời sống, không phải là các cánh cửa mở vào những chân trời cỏ, tím. Bài học đầu tiên, tôi học được từ đời sống, tự gốc, là những chia lìa/ hiu quạnh. Những ngúm tắt  bằn bặt, tiếng cười. Đó là những ngày gió. Những ngày nắng chông chênh, thất lỡ của chị O., từ vùng kháng chiến lui về, ở lại với mẹ tôi, sau khi chôn tạm xác chồng, người đàn ông chỉ có với chị vỏn vẹn ít năm hương lửa. Tôi từng có những buổi lẩn quẩn trong phòng, bên chị O. Với hai chiếc kim đan. Đan. Tháo. Đan. Tháo. Hoài hoài dăm cuộn len, cũ. Những lúc đó, tôi rất muốn nói một điều gì, với chị. Nhưng, chẳng những không có chữ, tôi lại không có khả năng diễn đạt cảm nhận, rung động trong lòng mình (như sau này, tôi cũng không có chữ, không khả năng diễn đạt rung động, cảm nhận thốn, nhức của tôi, trước tấm lòng, tiếng hát và, trái tim Trạc (trong tiếng hát.)

Chủ nhật buồn đi lê thê – cầm một vòng hoa đê mê – bước chân về với gian nhà – với trái tim cùng nặng nề - xót xa gì – nhớ thương gì – đã biết nguôi hương chia ly – trót say mê – đã yêu thì – dẫu vô duyên còn nặng thề - ngồi một mình nghe hơi mưa – mặc lệ tràn câu thiên thu – gió hiên ngoài – nhắc một loài – dế giun hoài – ru thương ru – ru hỡi ru hời…”

Tiếng hát Trạc mang những vỗ tay dịu dàng của đôi cánh đêm, bướm, trên những chênh vênh, thất lỡ/ ngày mới chưa qua, hồn sau đã cớm. Tiếng hát Trạc thả xuống tôi những đời hương ấu thơ/ đời tóc mưa/ bàn tay khô/ vồng ngực sát. Những đói khát  tình nhau mù lòa/ khua động những cồn cào, ẩn nấp sâu, lén trong vô thức tôi (nỗi cồn cào của mọi giác quan kêu đòi mở những cánh cửa máu, xương tưởng chừng kín, đóng)…

Tôi hiểu, tôi chẳng thể mang lại cho Trạc một lời gì, một hứa hẹn (vu vơ) nào, khi chính tôi, là một tuyệt vọng, lớn hơn chiếc bóng hai đứa nhập lại.

Con người là con vật chia ly với chính mình và, kẻ khác.”

Tôi buồn biết bao khi nói ra ý nghĩ này, với Trạc.

“Đời sống không chừa cho chúng ta một lối đi nào khác hơn sự lìa, đứt.”

Trạc nói.

“Và, em, không có được cho mình, cái quyền nhỏ mọn là quyền của một con vật tự chia ly chình mình…”

Hôm nay, tôi trở lại. Khu thương xá lột da, cho nó lớp son, phấn khác. Và, bóng tối thốc thào nôn những ngọn gió nhọn, những hạt mưa li ti như những bụi sắt, lạnh…Hôm nay, tôi muốn cho Trạc biết, tới lúc Trạc có thể có được cho mình, cái quyền tối thiểu: quyền làm một con vật tự chia ly với mình và, kẻ khác.

Không biết tôi có quá chậm? Chỉ rõ, chiếc hành lang nâu nhám, dẹp, dài có đoạn giữa tuồng cong lại, như chiếc lườn đầy thịt của một con cá khổng lồ bị xẻ dọc, đã thâm, tím



Chân Chưa Đi; Hồn Tợ Cửa Sông, Về

Mưa do dỏ, ướt chùm hoa do dỏ

Chân chưa đi; hồn tợ cửa sông về

Thơ dtl



Tôi không nghĩ Nhượng nhút nhát (thiếu nhạy cảm?) tới độ không hiểu tôi muốn nói gì, khi ra dấu cho biết, cần gặp riêng chàng. Trước mặt mọi người, chỉ thiếu điều tôi ghé tai , bảo: “Buông có chuyện. Anh ra sân với Buông.” Chẳng qua, tôi không muốn làm đứt đoạn câu chuyện của mạ tôi, đang hồi gay cấn.

Chuyện một người đàn bà có trên năm mươi năm tu tại gia, một sớm, một chiều, trở thành “trùm sò” buôn lậu trên tuyến đường Sài Gòn – Đá Nẵng. Bà buôn những loại hàng quốc cấm như bia/ rượu/ thuốc lá/…ngoại.

Thật là một thiếu sót lớn, nếu trong những kỷ lục của nhân loại, người ta không ghi tên bà.

Nhúng nửa thân trong bóng tối, lần đầu tiên, tôi chú mục, nghe ngóng sự sống cựa quanh mình. Đâu đó, những mầm búp quá khứ (tương lai) ngọ nguậy, nứt, hé. Đâu đó những tế bào, những vùng thịt da lì chai, hồi sinh, rạo rực. Không biết phải ánh mắt/ tiếng nói/ con người chàng (quá khứ tôi,) hiện diện, đã thổi hương sự sống vào căn.

Lối, nẻo, cũng chỉ dẫn đưa tôi, tới cuối đường mộ, huyệt. Phải bước qua bờ kia, sự sống, tôi chọn cái chết: uống mỗi ngày một ly đời khốn quẫn.

Ai bảo hôn nhân (nhầm lẫn) là một hình thức tự tử êm ái, người đó vẫn còn dư thừa lòng độ lượng. Với tôi, nó là bản án tử hình, được chánh án (sớm mai) tuyên đọc hoài hoải, mỗi mở mắt.

Như ai đó, tôi cũng có thể sơn phết cho mối tình giữa tôi và Dậu, những màu sắc nguyên nhân rực rỡ…Nhưng để làm gì? Tại sao tôi không thể nói thật (ít ra với mình/ với Nhượng,) tôi hèn hạ, tôi yếu đuối? Tôi (thịt da tôi) cần một căn hầm ẩn nấp. Dậu (thịt da Dậu) cũng thế. Thú tính gọi thú tính. Nhục dục tìm nhục dục. Bản năng (hân hoan) biết ơn bản năng.

Lấy Dậu, với tôi, mang ý nghĩa mượn/ nhờ những cuộc ân ái, những trận làm tình nhận chìm hình ảnh: Bố cải tạo/ mạ, xuôi, ngược/ em (chín đứa) chênh vênh trên ngọn sống, chết.

Lấy Dậu, với tôi, mang ý nghĩa thúc thủ, trước cánh cửa (tối tăm) khởi đời, đã sập. Tình chưa ra ràng/ môi chưa nuôi hương/ ngực chưa vỡ tràm/ dậy thì chưa vẽ xong chân dung/ gót son chưa nếm trải bậc thềm hẹn hò mưa non, nằng cốm/…hồn đã chấm than/ Thân đã xuống dòng. Đời sống, hoàn cảnh đã xé nát, những chiếc áo dài, chẻ nhỏ những đôi guốc hoa, ném tôi (chuột chết,) vào cống rãnh/ dìm tôi (hoang mang/ thất lạc) sâu thủy lợi (hồ hỡi.) Tôi, con diều giấy muôn mầu, (mang ước mơ lên vòm xanh/ tiếng hát lên tuổi trẻ/ hớn hở lên ngày mai,) thình lình giây đứt, cắt.

Đang từ hoàng anh, hoàng yến, bước ra, tôi thành con chó ghẻ lở, ngơ ngác thấy mình dạt, trôi bờ khác. Tôi cào,quơ rác rến, bã, cặn trong tầm. Tôi xục xạo, đánh hơi, kiếm tìm (chung quanh) vùng xú uế. Những bãi đời, bịt mũi. Những vũng, người lánh xa.

Hôn nhân, đôi khi chỉ tố giác sự yếu đuối, nhu nhước của những người không dám tự mình thỏa mãn lấy mình mà, phải mượn nhờ thân xác kẻ khác phái.

Tôi nói với Nhượng, tôi ở trường hợp đó.

Dậu mang lại cho tôi những giây phút ân ái phù du, chớp nhoáng. Dậu mang lại cho tôi những (tưởng chừng) ngất, ngất khoái lạc. (Cá nhân, tôi chưa tìm được danh từ nào, tương đương, thay thế, để ra điều tế nhị, học thức.)

Đời sống giản lược tôi, (chúng tôi,) đồng hóa tôi, (chúng tôi,) thành những con vật sống bằng bản năng. Bản năng sinh lý: đòi hỏi thỏa mãn (mọi cách,) đói khát, dục tính. Tôi biết, nếu tâm sự (với các bà, các cô,) tôi sẽ bị lên án ngay. Họ sẽ đỏ mặt, quay lưng, (ghê tởm!) Họ sẽ nhìn tôi tuồng quái vật, mới xuất hiện trên mặt đất (?!) Họ không nói, không nhận. Họ chỉ hành động. Họ mang thân xác/ lý tưởng/ trí thức/ tâm lý/ đảm đang/ trong trắng(?)/ ngây thơ(?)/ mồ hôi/ sức lao động/ tinh thần hy sinh/ mơ ước thờ chồng, nuôi con/…làm bả thơm (?) dụ những con mồi ngây thơ (thực sự ngây thơ?) sập bẫy.

Thây kệ. Đó là chuyện họ. Tôi không sống, để bận tâm những điều người khác nghĩ về mình. Họ có quyền đó. Càng có quyền đó, những người (trong quá khứ,) kém may mắn hơn tôi.

Mười lăm tuổi thôi, tôi đã hiểu thế nào là cuộc đổi đời.

Mười lăm tuổi thôi, tôi đã hiểu thế nào là sự xoay vần, luật nhân quả. Hãy cho đôi chân những người chưa biết cảm giác đi giầy, được có đôi giầy. Hãy cho thịt da, thân xác những người chưa biết cảm giác mặc chiếc quần lot`, bộ đồ ngủ, chiếc áo vest, nệm xe dầy, mùi nước hoa…, được có quần lót/ áo vest/ nệm xe dầy, mùi nước hoa…Tôi (chúng tôi) may mắn hơn, được hưởng, từ thuở lọt lòng, trứng nước. Đủ rồi. Tôi an ủi lấy mình.

Tôi chỉ đòi hỏi, cương quyết đòi hỏi, duy nhất, cho tôi, một tình yêu, (dù sống dưới chế độ nào,) phải không? Một nhạc sĩ viết, đời một người con gái, tới khi lấy chồng, chỉ còn mối tình, mang theo. Người con gái của ông ta, còn có mối tình mang theo. Tôi không. Không hề. Chẳng lẽ, riêng tôi, không phải con người?

Mạ tôi hiểu. Bà hiểu, (dẫu sao,) tôi cũng là con người (như mọi người.) Bà chia xẻ, tiếp tay. Có thể những cảm thông, chia xớt của bà, khiến đôi người kinh ngạc. (Những người nỏ mồm rêu rao đạo đức, luân lý, dù đời sống họ, không luân lý, đạo đức.)

Một xã hội, càng có nhiều con người nói tôi nhân nghõa, là xã hội hết rồi, nhân nghĩa.

“Sáng nay, trước khi đến đây, Buông nói với hai đứa nhỏ, mẹ phải đi. Mẹ phải gặp, dù trễ muộn rồi, điều đó.”

Tôi nói, tôi có mang theo một bài viết,

“Chữ anh đó. Ngày xưa đó. Buông ghi lại, ngày mới lớn. Anh đó. Phải anh không?”

Nhượng nhợt nhạt. Tôi quay qua Ngâu:

“Phải không chị Ngâu? Buông giữ…, bao lâu hả?

Không nhớ nữa. Làm sao có được ư? Thì Buông chép. Thấy. Mượn. Chép ra. Cất đi. Cất đi. Cất đi. Làm tin trong nhà? Không. Ơ mà, có thể. Buông không biết. Không biết nữa.”

Tôi nói/ khóc. Kể khóc/ nói. Lung tung. Hỗn độn. Điên rồ. Mất trí. Chẳng đầu đuôi. Như chậm chút xíu, vài tiếng nữa thôi, có thể, tôi không còn. Không ai, còn. 

Dường tôi có ý trách móc sự xuất hiện muộn màng của chàng. (Như thể, Nhượng là nguyên nhân đưa tôi tới cảnh thân tàn ma dại này.) Dường tôi có ý đổ trút lên đầu chàng, mọi trách nhiệm, hậu quả về đời tôi. (Như thể, chàng gay nên mọi chuyện.)

Mọi người quanh tôi, hốt hoảng. Chỉ Ngâu, bình tĩnh. Ngâu vỗ về, an ủi. Ngâu quàng tay ôm, vuốt tóc tôi (trong lúc Nhượng lớ quớ, loay hoay, lúng túng như một anh chàng nhà quê, ra tỉnh, lần đầu tiên, đứng trước một đám rước, toàn đàn bà, con gái.

Ngâu dỗ tôi bằng câu nói nhiều ý:

“Chị hiểu. Chị hiểu. Chị hiểu. Đừng khóc nữa. Lau nước mắt đi. Từ từ. Coi nào. Ô. Cái gì đây?”

Kim lăng xăng lấy khăn. Trạc quýnh quánh như gà mắc đẻ.

“Anh Nhượng, coi này. Dễ thương không?”

Tuồng Ngâu đưa miếng giấy của tôi cho Nhượng.

“Ôi chao. Xinh chưa. Đưa cái mặt đây, chị coi.”

Ngâu nâng mặt tôi lên. Tôi nhắm mắt, nghe hân hoan/ hớn tủi, dềnh, dâng, lênh láng lòng mình. Tôi mong Nhượng không bỏ sót lời khen của Ngâu. Nỗi e ngại, hiềm khích, êm đềm tan, như những hạt lệ chảy thêm.

Nó mang cái êm ả, lười biếng, con sông cuối dòng, vươn những ngón tay hạnh phúc mệt mỏi, thêm một đỗi hoan lạc, vói.

Ngây ngồi chờ xúc động trong tôi dịu bớt? Nàng đứng lên, kiếm cớ phụ bếp, để chàng lại cho tôi. Khi ấy, tâm trí đâu để phân tích hành vi của Ngâu, tôi chỉ hiểu, thời gian không thuộc mình. Nhượng sẽ biến mất khỏi khung cảnh này, thành phố này, đời sống này. Như đã.

Hạnh phúc, như tình vui, khi nào chịu ở mãi cùng ta?

Tôi được tin Nhượng tới, xế trưa hôm qua. Từ trường về, tôi đang cho heo ăn, Tí Em ào vô, như lốc. Nó thì thầm, (tựa ngoài hai đứa, mấy con heo, còn ai khác. Nó úp mở, bảo, người đàn ông tôi hằng chờ đợi/ khát khao/ mơ ước gặp, đã có mặt. Nó nói huyên thuyên, chộn rộn một hồi, tôi vẫn không thể nhớ, người đàn ông ám ảnh suốt thời trung học, dậy thì tôi, là ai?

Càng cố lục lọi, đầu óc càng mụ đi. Những con sóng/ cánh chim/ hàng cây/ ngày mưa/ ba mươi bảy năm tôi, chao liệng như những miểng kim khí lấp lánh, thấp thoáng, liếc bay giữa khối mù sóng sánh, nước 

Con hỏ chắc mẩm tôi hiểu. Nó liến thoắng tả cuộc gặp gỡ. Nhận xét riêng:

“Thất vọng,” nó nói. Rồi bất ngờ kết luận:

“Có thể em sẽ thay đổi quan điểm, nếu có thêm một lần gặp nữa.

Hất nốt đống ra bát nháo đã bằm vụn vào chuồng cho heo, tôi buông máng xuống:

“Mi nói chi mô, tau không hiểu? Con khỉ. Ai rứa?”

Tí Em sững, nhìn. Tôi lập lại, từng tiếng:

“Mi nói rõ tau nghe, ai rứa?”

Tí Em tiu nghỉu. Những con sóng khích động cấp năm, cấp sáu, thình lình rút nhanh:

“Thì ông Nhượng chớ ai.”

Tí Em đáp, miễn cưỡng. Nó quay lui, tuồng ân hận vì đã cho tin, nhầm người.

Tôi đứng lại, muốn xỉu. Ông Nhượng. Đúng. Tôi nghe rõ. Không lầm được. Lầm nỗi chi! Vài bữa trước, khi Kiem kể, anh Nhượng, chị  Ngâu sẽ ra thăm, tôi đặt cọc:

“Nhớ cho Buông biết ngay lúc họ đến, hỉ.”

Tôi chuẩn bị, loay hoay (tưởng tượng,) phút giây gặp Nhượng.


Đâu là câu đầu tiên, nên nói? Ta sẽ phải an9 mặc ra sao? Chiếc áo nào đẹp nhất, ta còn? Nhượng thích mầu gì? Xanh hay trắng? Chàng thích nghe giọng Huế ta, giọng Bắc cũ? Ta nên ôm (ngã vào) chàng? Mặc sức khóc? Hay đứng im? (Chàng chạy tới?) Nên cầm tay (đợi chàng nắm (ôm) ta trước? Lỡ chàng nhác quá, rồi sao? Phải có thái độ nào với Ngâu? Xưng hô sao, cho khỏi kẹt về sau? Nên bảo Ngâu, hãy để ta, một mình với chàng?...

Tin Nhượng tới, làm tôi tê liệt. Mọi dự trù, suy tính trước đảo lộn hết. Tôi thất thần lấy xe xông ra đường, phố. Tựa nếu tôi không có một hành động mạnh bạo, cấp thời, thịt da đang tấy mưng mừng/ tủi sẽ đục rách tôi, chui ra, tháo chạy. La lớn mỗi tủi/ mửng chính nó. Đầu óc tôi lùng nhùng những tham, hám mâu thuẫn. Nên (không nên) gặp chàng? Tôi như đứa nhỏ vừa muốn khoe ngay niềm vui, mặt khác, muốn nhẹm đi, để gậm, nhắm, nhâm nhi niềm vui mình. (Nói ra, chiếc bánh hoan lạc sẽ bị bà phù thủy độc ác gõ cây phất trần, biến thành nhỏ téo?) 

Giống người mất trí, chạy nhầu một hồi, sực nhớ, ta không hề bỏ quên vật gì trên đường phố, tôi vào một quán cà phê; gọi cho mình một ly cà phê, mấy điếu thuốc lẻ. Đã lâu, chuyện một người con gái vào quán cà phê, hút thuốc không còn là hình ảnh lạ. Nhưng việc tôi vào quán, ngồi với những điếu thuốc của mình, thì, lạ, (chí ít, cũng với chính tôi.)

Tại sao tôi có hành động đó? Phải, tôi bị vô thức, điều khiển? Phải, mỗi nghĩ, nhớ Nhượng, lập tức tôi liên tưởng quán xá/ thuốc lá/ chỗ ngồi? Một tấm lòng hiu quạnh, một trái tim xa vắng (?) mà, chỉ tôi, (riêng tôi) mới đủ khả năng lấp đầy, ban phẳng?

Tối đến, trước khi về, tôi ghé lại mạ. Hai mẹ con ngồi nơi hàng hiên. Tôi tâm sự muốn (không muốn) gặp Nhượng. Tôi cũng chuẩn bị cho mình, những lý lẽ khả dĩ bác bỏ ý kiến chống báng của bà, nếu có. Rất may, bà bảo:

“Con nên đi thăm anh ấy.”

“Dạ. Con nghĩ rứa mới đúng, phải không mạ?”

Bà lắc đầu, (chua xót,) nhìn tôi: “Đã qua lâu rồi, thời của những điều sai/ đúng. Giờ, sắp tới, chỉ còn chuyện sống/ chết, thích thôi, con ạ.”

Mạ tôi đính điếu thuốc sau kèn, vấn xong đã lâu, lên môi. Bà cúi xuống ngọn lửa nhỏ sáng lên từ cây diêm. Khuôn mặt bà tựa khối đá nhẵn, thín. Tôi nghĩ, lúc chiếc cổ bà không giữ nổi, nó sẽ rơi xuống. Khi ấy, bà sẽ (hay đã,) là kẻ khác?

“chính mạ khuyến khích Buông đi gặp anh đó,” Tôi cho Nhượng biết.

Buổi trưa, nhà Kim, tôi không ngờ mọi thứ lại diễn ra dễ dàng, xuôi thuận hơn mọi dự trù ít xấu nhất. Không chỉ Ngâu, Trạc, chị của Kim cũng tỏ ra thân thiện, thông cảm và hiểu biết. Mạ Kim giữ tôi lại ăn cơm với gia đình. Suốt buổi, Ngâu nhắc Nhượng gắp thức ăn cho tôi. Với một chén cơm thôi, đã tựa nuốt vào lòng mình, trọn vẹn hình ảnh, nụ cười, tiếng nói, dáng điệu, cử chỉ, ánh mắt, ân cần, chăm sóc cùng, nỗi hân hoan, muộn, hiếm.

Ăn xong, Ngâu ngồi nán, ít phút. Tôi bảo Ngâu, tôi thích đôi môi chàng. Qua ánh mắt kinh ngạc, tôi đọc được điều Ngâu không tiện nói. Có thể Ngâu đã rủa thầm: Đồ con gái hư. Mới gặp trai lần đầu, đã nói điều táo tợn.

Ừ, thì tôi: Đồ con gái hư. Dù sao, tôi vẫn thấy mình hơn nhiều người. Bao kẻ có những ý tưởng táo tợn hơn tôi nữa kìa. Khác chăng, họ giữ lại, để ra điều ngây thơ, trong trắng (!)

Tôi nghe được thịt da tôi gợn gợn gai ốc. Hình dung lúc chàng cúi xuống thân thể Ngâu (từ tiềm thức,) tôi hỏi, tại sao không là tôi? Sai biệt nào, giữa tôi và nàng, đưa tới, quyết định có/ không đó? Đã chắc gì Ngâu hơn tôi (ngoài mối liên hệ quá khứ.) Nếu Nhượng là một người khác, ở hoàn cảnh khác, liệu Ngâu có dám đánh đổi tất cả, để theo chàng? Hay nàng sẽ quay lưng? Sẽ phủ nhận?

(Tuổi tác lấy đi mọi sốc nổi nơi người đàn bà. Ngược lại, nó mang tới họ, những tính toán khôn ngoan, dù ít người chịu nhận.)

Là tôi, thân thể tôi, tôi sẽ không mắc cỡ/ che đậy; rằng tôi hạnh phúc. Tôi sung sướng. Tôi chẳng ước ao/ khao khát gì hơn. Tôi sẽ  bảo chàng: giữ, ôm Buông, sát nữa.

Ăn xong. Ngâu ngồi nán, ít phút. Tôi bảo Ngâu, tôi thích khuôn mặt chàng. Qua ánh mắt ngỡ ngàng của Ngâu, tôi đọc được điều không tiện nói. Có thể Ngâu đã rủa thầm: Đồ con gái hư. Mới gặp trai lần đầu đã nói ra những điều dị hợm.

Ừ, thì tôi: Đồ con gái hư. Dù sao, tôi vẫn thấy mình hơn nhiều người. bao kẻ có những ý tưởng dị hợm hơn tôi nữa kìa. Khác chăng, họ giữ lại. Họ lẩn tránh (tự đánh lừa,) bằng những bề ngoài e lệ, rụt rè, sợ hãi.

Tôi hình dung, lúc Ngâu vo vo khuôn mặt chàng, đem áp vào ngực Ngâu (từ tiềm thức,) tôi hỏi tại sao không là tôi, làm việc đó? Sai biệt nào giữa tôi và nàng, đưa tới quyết định có/ không đó?

Đã chắc gì Ngâu hơn tôi (ngoài mối liên hệ quá khứ.) Chắc gì Ngâu đã hơn tôi? Nếu Nhượng là người khác, ở hoàn cảnh khác?

(Tuổi tác lấy đi khỏi người đàn bà những cuộc tình mù lòa. Ngược lại nó mang tới cho họ, đôi mắt của cặp kính hiển vi. Chói, gắt thực tế.)

Là tôi, (ngực tôi,) tôi sẽ không mắc cỡ, bảo chàng hãy hôn, hãy nhay, hãy cắn. Cắn đứt nó. Tôi sẽ bảo chàng, lần đầu tiên trong đời, tôi hiểu thế nào là rung động nuôi con (như chó, mèo)?

Ăn xong, ngồi nán ít phút, Ngâu đứng lên, vào phòng. Phải Ngâu ngầm phản đối những bày tỏ của tôi về Nhượng? Phải, đó là cung cách ứng phó của Ngâu, trước đắm đuối (không che đậy,) tôi bộc lộ với Nhượng? Cách gì, tôi cũng cám ơn Ngâu. (Cám ơn sự cảm thấy thừa thải của nàng.)

Trưa đứng bóng. Nắng lọc qua tàn khế, kẻ những cánh hoa đen, mềm, lên nền đất. Khu vườn óng, mượt tiếng cu gáy. Tiếng cu gù mái đều đều, không đủ sức bơm thêm máu cho buổi trưa tẻ, chậm. Tôi nhìn ra miếng sân cát. Những vết xe tẽ, tưa như những vết nhăn sớm trên thân thể người đàn bà không nhận, hưởng được ân ái (hay thứ ân ái, một chiều, chịu đựng.) Lối đất hiu hiu, nối vào con ngõ ngoằn nghoèo, dẫn ra lộ đá, chạy dọc con mương đào.

Con mương nông sờ, cạn queo như số phận của những cuộc sống dật dờ, đi bên nó. Cứng rắn mấy, nếu không có tình yêu, nhiều lúc (tôi nghĩ,) người ta cũng hải nổi gai ốc trước nỗi ù lì, bẹt, lặng.

Mạ Kim đều tay quạt trên chiếc giường gần kề bàn ăn. Bà lim dim tựa mới chợp mắt. Mong bà không thấy xa hơn mấy cây cọc treo mùng. Tôi cầm tay Nhượng. Bàn tay lạnh trong lò than rạo rực, lửa tôi.

Nhượng bảo:

“Buông hát đi, bài lúc nẫy.”

Tôi hát cho Nhượng nghe, không chỉ một, nhiều hơn hai. Những bài hát, (gián tiếp nói với Nhượng, tình tôi. Cách khác, tôi muốn Nhượng hiểu, mỗi nghĩ, nhớ chàng, thì, lời ca, tiếng hát (tôi) chính là phần thịt da buồn bã (nhưng thân thiết nhất,) của chàng đắp lên môi tôi.

Nhu cầu chứng tỏ quyền sở hữu, đôi khi, quan trọng, đáng kể hơn quyền sở hữu?

Đêm vá những tàn lá nhãn lên mặt lộ bằng những đường kim vụng.

Tôi không nghĩ Nhượng nhút nhát hay thiếu nhạy cảm tới mức không biết, tôi đang đứng đợi chàng ở đây. Mặt khác, tôi cũng không tìm được cho mình, lời giải thích! Rõ ràng chàng không ra. Rõ ràng, mọi người vẫn say mê (giả đò) lắng nghe mạ tôi kể chuyện. Rõ ràng, tiếng cười chàng, vẫn ném ra, như mỉa mai, như châm chọc? Ngâu ngăn cản, nhộn nhạo trong các mạch máu tôi.

Cảm nhận thù ghét/ oán hận/ khinh bỉ/ bập bùng, cháy, tôi bực bội trở vào. Nhượng quay ngang. Chàng mỉm cười. Nên ra dấu lần nữa? Nên ghé tai nói với chàng, ý muốn mình? Ánh mắt nghiêm nghị của ba tôi, như thùng nước lạnh dập tắt tức thì, ngọn lửa tham, hám vừa nhen, lớn. Tôi đi thẳng.

Ngồi xuống chiếc giường của út Trân, tôi bồn chồn, tuồng ai đó, đang gia sức thổi cao ngọn lửa cháy bằng thứ khí đốt mang tên uất hận, hờn ghen (mạch nguồn bản năng ẩn, ẩn) sâu tôi. Không thể cho phép mình, ngồi đây, nhìn miềm khát khao, (trong/ và thân thể mình,) cháy thành than, tro, tôi quyết định bước ra. Quyết định dừng lại. Quyết định sẽ nói:

“Buông muốn gặp anh. Một phút.”

Tôi chuẩn bị một phản ứng thích hợp, nếu Ngân can thiệp; nếu Kim lên tiếng…Tôi treo ngược trái tim mình, trên ngọn dáo nhọn hoắt nỗi bi thương và, niềm bất hạnh.

Tôi sẽ nói ngay, một lời gì (thật mạnh mẽ, dứt khoát,) với Nhượng. Tôi đoan chắc với mình như vậy, ngay khi hai đứa ra khỏi tầm mắt canh chừng sát rạt của mọi người.

Tôi nghĩ, chắc tôi chỉ có đủ thì giờ để ôm Nhượng, để khóc. Có khi mọi người (đổi ý) cho tôi thêm vài giây, ân huệ. Nếu vậy, tôi sẽ bảo Nhượng, cho tôi sống. hãy cho tôi sống, một lần. Một buổi. Một ngày. Dù lập tức, chuyện gì. Dù thế nào, mai sau.

Tôi vén bức màn gió. Toàn thân như khối thuốc nổ là những lời hờm sẵn trên môi. Mọi người đã đứng lên. Ai xướng xuất sự chia tay sớm sủa này? Khoan tìm hiểu đã. Ta không còn thì giờ. Tôi bước vội tới Nhượng. Tất cả, luôn Ngâu, dường thấy, không thể không dành cho tôi một chút khí trời. Tất cả, luôn ba tôi, dường thấy, không thể cản ngăn. Tuồng nơi tôi, tỏa, toát một bất cần đe dọa, một liều lĩnh rồ dại. Họ bước nhanh. Nhượng chùng chình. Tôi cảm ơn chàng chậm, chậm.

Suốt buổi tối, lúc này, tôi mới được đứng cạnh niềm hy vọng (chiếc bóng quá khứ) nửa đời, tôi?

Nhượng lúng túng dúi vào tay tôi chiếc bật lửa:

“Buông cầm lấy. Anh có cái khác, ở nhà.”

“Không anh. Buông đâu cần bật lửa.”

Tôi, trái banh xì hơi. Nhượng nhíu mày: “buông sao vậy?”

Tôi nuốt xúc động:

“Lúc này, sao anh không ra?”

“Lúc nẫy?
”Dạ.”

“Anh tưởng…”

“Chứ không phải chị Ngâu cản?”

“Không. Anh tưởng…”

Tôi níu tay Nhượng. Tôi nghe mình muốn sốt khi nhận được mùi thịt da chàng chuyền qua.

“mai anh đi mấy giờ?”

“Buổi trưa.”

“Ừ.”

“Anh đợi?”

“Ừ. Anh đợi.”

Ngoài đường, một số người quay lui, nhìn chúng tôi.

Ước gì, tôi có thể đâm, mù mắt họ lúc đó.


Ngâu bảo:

“Anh ra chơi với Thu Buông. Em qua thăm mấy đứa nhỏ, nhân tiện chào anh Trái.”

Tôi gật đầu, mở hết cánh cửa sổ căn buồng nhỏ. Nằng liu điu trên mấy luốn khoai mì. Căn nhà yên ắng. Cái yên ắng chuẩn bị cho một ngày chia tay mà, không ai có thể đoán trước ngày gặp lại. Buổi sáng, tôi cố không nhìn Đẻ chân o chân thả trên chiếc giường, gửi hồn phiêu phưỡng nơi đâu. Tôi không thể đoán được đằng sau cặp mắt đã ngả mầu ruột khế, bà thấy gì? Hình ảnh/ những đứa con nào trở về của chúng tôi, chỉ khuấy, động lớp váng trên mặt nước ao tù quá khứ. Tôi hiểu sự trở về của chúng tôi, chỉ thêm dầy, rộn lớp bụi của thời gian, phủ che nỗi buồn sắc xuống, một đời góa bụa, rất sớm. Anh Thụy kể, bà góa bụa từ năm hăm tám. Hăm tám tuổi, ở vậy được, với một người thiếu phụ bình thường, tầm thường, đã khó. Càng khó hơn nữa, với một thiếu phụ, chẳng những nhan sắc mà, nhan sắc hơn người. Nhan sắc hơn người. Nhan sắc nổi tiếng. Bây giờ, dù đã bước vào tuổi tám mươi, nước da bà, vẫn là nước da mịn màng (thời xưa được đọ ngang với nước da của một quả trứng gà, bóc vỏ.) Bây giờ, ở tuổi tám mươi những nét thanh tú, nụ cười duyên dáng tự nhiên trên đôi môi tươi, mỏng, vẫn còn khả năng thực chứng, nếu nụ cười này, nếu đôi mắt nó, một thời, có được mệnh danh là nụ cười mê hoặc, đôi mắt dìm chôn người đáy biển, thì, cũng không là lời nói quá. Gặp lại Đẻ, thấy bà, ở tuổi già, tôi hiểu, tại sao, khi ông cụ đưa bà về, cả làng tới xem mặt cô dâu…, Ngâu, kể.

Tôi hiểu, niềm vui tôi mang về cho bà chẳng bao nhiêu, so với nỗi buồn, chúng tôi để lại, lớn to, chĩu nặng như khối đá khổng lồ chất thêm lên chiếc lưng đã oằn cong quạnh hiu,/ nhớ thương/ mất mát. Tôi hiểu, ngày vui ngắn, ít. Nỗi buồn thênh, thênh. Tôi hiểu, chuyến đi này, không chỉ để lại cho bà dư âm tiếng cười khôn tan, thấp thoáng hình ảnh ghi khắc…mà, tôi còn gửi lại nơi trái tim dập bầm héo úa của bà, nỗi âu lo, niềm thắc mắc, về một người con gái.Thu Buông. Một lần, sau khi tiễn chân Buông, trở vào, tôi than:

“Chết con rồi Đẻ ơi!”

Đang thẫn thờ dõi theo những ngọn lửa (như nghe lời trò chuyện thầm thì, nhỏ to, chỉ riêng bà hiểu,) bà xoay ngang, nghiêng đầu, ngước mặt (tựa con ngỗng nghếch chiếc mỏ vàng au, hướng lên bầu trời,) ngh3 ngóng động tĩnh.

“Gì đó Nhượng?”

Tôi bước lại, ôm đôi vai cò hương của bà:

“Lần sau con về, chắc Đẻ phải đi cưới vợ cho con mất thôi.”

Tôi không nghĩ bà nghe được trọn vẹn câu nói quá nhanh của mình. Có thể bà chỉ phỏng đoán. Bà đứng lên không chút chậm chạp, khó khăn thường thấy, cười, nụ cười ngát, ngát thương yêu, đằm, đằm bảo bọc.

“Kìa Đẻ, Đẻ nghe gì không? Anh Nhượng nói, Đẻ đi cưới Thu Buông cho anh ấy đấy.”

Ngâu nhảy xộc vào giữa. Vẫn nụ cười lấp lánh tinh anh, rí rỏm của năm, sáu chục năm trước, bà xua tay:

“Thôi đi. Có vợ rồi còn vợ chi nữa?”

Cả bọn cười, rũ. Gương mặt bà rạng ngời, tựa nơi mỗi tế bào, mỗi sợi tóc còn lại, trên đầu bà, đã cùng lúc nở những bông hoa cau trắng, ngợp. Bây giờ, lúc này, tôi biết Buông đang có mặt ở phòng khách, nhưng bà vẫn còn lẩn quẩn trong bếp, cùng những ngọn lửa, những chiếc nồi, những chén bát, rổ rá của bà. Có thể, những ngọn lửa, những chiếc nồi, vẫn tiếp tục trò chuyện với bà, (bằng cách của chúng.) Nhưng tôi không tin bà nghe được điều gì nơi chúng. Lúc này, bên cạnh cố gắng đương đầu với sự chia tay các con, trong bà, còn mối nghĩ, lo về Buông. Như tôi đã băn khoăn, khổ tâm về nàng.

Tôi bước ra đúng lúc Buông trờ tới cửa phòng. Nàng, (luôn gương mặt,) như chiếc lá nhợt nhạt, thiếu chất diệp lục tố. Có chút gì nhói buốc nơi nụ cười (của Buông)/ sự yên ắng (dường đột ngột của Dẻ/ Kim/ Tí Em.) Tôi phân vân không biết nên lui vào căn buồng hay đi tới. Trở lại căn buồng, có thể, là định tâm của Buông. Trong đó, ít nhiều chúng tôi cũng có ít phút tự do. Khó biết trước tôi sẽ nói (không nói)/ làm (không làm) điều gì. Vấn đề không nằm nơi những điều tôi muốn/ không muốn. Vấn đề nằm nơi Buông. Tôi chỉ có thể trả lời, trong căn buồng, tôi sẽ không từ chối bất cứ một yêu cầu nào, của Buông. Nếu Buông khóc, (tôi biết nhiều phần Buông sẽ khóc,) thì, không cần Buông phải yêu cầu. Chính tôi sẽ ôm ghì lấy Buông. Chính tôi sẽ dỗ dành/ lau nước mắt/ an ủi/ hứa hẹn/ vuốt ve/ đòi hỏi…nàng. Tôi không loại bỏ trường hợp, Buông viện cớ Ngâu sẽ trở về. Tôi không loại bỏ Buông nhắc nhở, đừng làm khổ Buông thêm nữa. Làm sao Buông chịu đựngn nổi, một khi sau đó, tôi đi mất? Tôi cũng không loại bỏ trường hợp, chúng tôi đang nằm với nhau, Tí Em, Kim (ngay Ngâu) sẽ gõ cửa. Họ sẽ gọi, kêu gấp rút.

Trường hợp nào, (nếu Buông khóc,) tôi biết, sẽ chỉ mở ra cho tôi một lối đi rất hẹp. Lối đi về phía trước. Phía chọn lựa liều lĩnh, bất cần, bất chấp. Còn Đẻ? Phải, còn Đẻ? Với Đẻ thì không thể. Tôi không thể để lại cho bà nỗi khổ tâm, niềm khắc khoải, mới. Tôi nghĩ bà sẽ không chịu nổi, nếu có chuyện gì xảy ra, giữa tôi và Buông.

Hãy để mọi chuyện, diễn ra đằng sau chiếc lưng đã gần thế kỷ mưa, nắng. Tôi hiểu điều đó. Mặt khác, tôi cũng hiểu tấm lòng/ trái tim/ tình yêu/ rung động của Buông. Mặt khác, tôi cũng hiểu, mặc nhiên tôi nhận từ Buông, tấm huân chương, có đủ hai mặt. Mặt cảm kích tình sâu. Mặt ngút cao trách nhiệm. Tự gặp gỡ thứ nhất, tự nhận biết đầu tiên, tôi đã nguyện riêng với mình: nếu còn một quan tâm nào, sau ân nghĩa ngày qua. Thì đó là Buông vậy.

“Ra đây với anh.”

Tôi buột miệng, khi chạm đụng nỗi tuyệt vọng long lanh, hút hút nơi đôi mắt mở lớn lạc thần, đôi tay hốt hoảng đưa ra; nửa chửng thả, thõng.

“Buông.”

Tôi (hay niềm trắc ẩn/ mặc cảm tội lỗi/ bất nhẫn,) cất tiếng gọi.

Tôi (hay nỗi ngậm ngùi, niềm ly biệt) cầm lên những ngón tay Buông úa, héo, lúc hai đứa đứng trước hiên nhà, khuất sau bức tường và, cột gạch cũ.

Tôi (hay niềm thương xót dạt dào) ngửi được mùi nắng gió/ mùi tương tư gối chan8/ mùi bịn rịn tỏ tình/ mùi gửi trao đời nhau nửa kiếp/…nơi thịt da Buông, lúc nàng mân mê bàn tay cằn cỗi của tôi, kéo tôi ngã, đổ vào ngực nàng. 

“Buông tiếc không thể tới sớm hơn,” nàng nói.

“Anh hiểu.”

“Phút chót, Buông mới có xe.”

“Anh hiểu.”

“Liệu chúng ta còn được lần khác?”

Những ngón tay tôi run rẩy, xoa, xoa lớp vải trên ngực buông. Không thể xác định Buông hay tôi, đã mang những ngón tay cằn cỗi của tôi, đặt lên ngực Buông, cũng đang run rẩy. Tôi nghe được hơi thở gấp gáp/ nóng hổi từ đôi môi son đỏ. Tôi nghe được nhịp đập (cũng gấp gáp/ nóng hổi) trong ngực mình.

“Còn.”

“Chắc không?”

“Chắc.”

“Chị Ngâu sao?”
”Chị bảo, may mắn cho ai được làm con bà.”

“Buông hỏi chuyện khác. Chuyện mình.”

“A. Ngâu bảo. Anh nên gặp Buông.”

“Vậy thôi sao?”

“Vậy thôi.”

Buông nhìn xéo ra sân nắng. Những chùm hoa xác pháo kín đáo (thẹn thùng) nở bên bể nước, rêu. Nàng thở ra. Không thể đoán Buông nghĩ gì. (Có thể chính nàng cũng không biết nàng đang nghĩ gì.) Cuối cùng. Buông bảo:

“Anh nhớ, thư cho Buông.”

“Anh hứa.”

Buông lại thở ra:

“Suốt đêm qua Buông trằn trọc…”

“Anh hiểu.”

“…Chỉ ước gì, có anh bên cạnh.”

“Anh hiểu.” “Anh hiểu?”

“Những gì, Buông chờ đợi.”

“Thật vậy?”

“Thật.”

“Anh muốn hôn Buông không?”


“Nhượng ơi, Ngâu về rồi đó. Vào sửa soạn mà đi thôi, con.”

Đẻ gọi. Tiếng gọi không vang đi từ chiếc giường bà vẫn ngồi, dường như từ cửa hông. Chiếc cửa. Ngâu mới chạy vào, như một doi nắng, yếu.


“Em sung sướng?”

Người đàn ông nghiêng mình, ngó qua khung cửa nhỏ Mưa chăm chỉ lau miết những chiếc lá khuynh diệp, rủ dưới tầm mắt. Lá dài, thuôn, như những mảnh gương cắt đều, treo ngược.

“Nhiều hơn đợi chờ, tưởng tượng của em.”

Người con gái nói. Gió quấn những chiếc khăn nước lên đầu hàng cây khoai mì, thấp.

“Như niềm ân hận?”

“Sau một sự việc, chỉ có hai trường hợp, đem lại cho người ta niềm ân hận.”

Người con gái nói. Nàng vắt cánh tay nõn (lấm chấm vài nốt đen) ngang ngực trần, khuôn mặt dấu sâu trong khoảng trống giữa vai và, cổ người đàn ông. Hơi thở, hương tóc, mồ hôi trên thân thể nàng thơm nẫu, những mỏi mệt hạnh phúc. Nàng tiếp:

“Thường nhất là sự lầm lẫn.Thứ đến, thất vọng. Chính sự thất vọng nẩy sinh trong họ, một toan tính khác. Và họ sợ gặp trở ngại trước toan tính đó.”

“Anh tưởng cần phải thêm, phần hiện tại?”

“Chỉ những người không biết mình là ai. Mới không biết mình muốn gì.

“Không. Chỉ những người cho họ một giá trị to lớn. Trong khi thực tế họ không có. Hoặc có, chỉ như hạt cát, vô nghĩa.”

“Ví thử họ có. Như em?”

Mưa nhỏ. Gió thấp dưới chân tường. Người con gái nằm xuống. Gương mặt nàng tan, xa theo tiếng thở dài của nàng:

“Nếu có một ân hận em mong ước cho đời mình, thì đó là niềm ân hận em vừa được hưởng.”

Người đàn ông quay lại. Anh nghiêng người xuống thân thể nàng:

“Dù ngày mai, chúng ta lại mất nhau?”

“Dạ, dù ngày mai…”

Người con gái bỏ lửng câu nói.Tuồng nàng cố tình nhắc lại hai chữ mất nhau.

“Bởi vì…”

“Em ân hận. Ân hận trước mọi ân hận. Ân hận không được gặp anh, sớm hơn.”

“Bây giờ quá muộn?”

“Không. Anh. Đúng hơn, bây giờ, em như một cửa sông, nước cạn.”

“Dù mùa mưa vẫn qua?”

“Vâng. Mùa mưa vẫn qua. Và, mỗi năm một lần lũ, lụt.”



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 12909)
Có thể nhiều người quên rằng trước khi trở thành họa sĩ nổi tiếng, có tranh được trưng bày tại nhiều bảo tàng viện quốc tế, họ Lê vốn là một nhà thơ.
(Xem: 19492)
Một trong những cây bút nữ, khiến chúng ta phải nghiêng mình, trân trọng trước tài năng, đó là Bùi Bích Hà, truyện ngắn.
(Xem: 2893)
Nhạc phẩm đầu tiên ông sáng tác lúc mới 13 tuổi là bài ‘Mẹ Tôi’,
(Xem: 13107)
Ông là một nhà văn nổi tiếng của miền Nam. Tuy nhiên, những người biết ông qua chương trình phát thanh “Nhạc chủ đề” (trên đài Saigon, cùng với nhạc sĩ Vũ Thành An), lại nhiều hơn, những người biết ông qua văn chương. (Còn Tiếp)
(Xem: 16916)
Chúng ta cùng biết, Nhà thơ Lê Đạt là một trong những kiện tướng của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, giữa thập niên 50
(Xem: 12491)
Chúng tôi quen anh vào cuối năm 1972. Bạn tôi đem anh về
(Xem: 185)
Tôi chỉ gặp ông dăm ba lần, cũng như những cuộc gặp gỡ của các cá nhân nhà văn Việt Nam khác, nhưng câu chuyện về cuộc đời này và về thơ ca dài gấp ngàn lần thời gian những cuộc gặp gỡ của những cá nhân nhỏ bé trước vũ trụ vô tận này.
(Xem: 434)
Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam, miền Bắc Việt Nam.
(Xem: 580)
Lắng nghe một đoạn, tôi nhận ra giai điệu quen thuộc. Đó là một sáng tác của Từ Công Phụng phổ từ thơ Du Tử Lê, Ca khúc "Trên Ngọn Tình Sầu."
(Xem: 562)
Khi anh chết/ Không đem anh ra biển/ Mà chôn anh vào/ Huyệt mạch của quê hương
(Xem: 13165)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 2898)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 3479)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 4015)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 3909)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 23851)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 18241)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 15914)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 19281)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 17069)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 15652)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 13356)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 12284)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 12446)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 11625)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 11259)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 18274)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 25258)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 30068)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 21529)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 23348)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 26430)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 25638)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 21705)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
2,832,288