Lê Thánh Thư

16 Tháng Giêng 202212:49 CH(Xem: 98)
Lê Thánh Thư

Tương Tác Giữa Thi Ca Và Hội Họa Nơi Tài Năng Lê Thánh Thư 

Nhà xuất bản Giấy Vụn, Saigon, trong những ngày qua, đã ấn hành thi phẩm “viết trong bóng tối. Amen” của nhà thơ và, cũng là họa sĩ nổi tiếng Lê Thánh Thư.

Có thể nhiều người quên rằng trước khi trở thành họa sĩ nổi tiếng, có tranh được trưng bày tại nhiều bảo tàng viện quốc tế, họ Lê vốn là một nhà thơ. Theo tôi, chính thi ca là một bệ phóng  huy hoắc, để tác giả “viết trong bóng tối. Amen” (vtbt.A) ném mình vào thế giới tạo hình và, màu sắc.

Từ nền tảng thi ca giàu có của mình, họ Lê đã có được cho tranh của ông những dung lượng thơ mộng, lãng mạn và, luôn cả độ trầm sâu của những game màu, đưa ông tới được những quảng trường hội họa thế giới.

Trong cảm nhận của tôi, sự tương tác giữa Thi ca và Hội họa nơi tài năng Lê Thánh Thư, là một tương tác hữu cơ máu, thịt. Như sự tương tác bất khả phân giữa nắng, gió đất trời, giữa tài năng và những xúc chạm siêu hình, hư ảo. 

Cũng nhờ tương tác có tính máu, thịt kể trên mà, tài hoa Lê Thánh Thư, mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, như một thân mộc lớn, xuôi thuận thời gian, trổ thêm nhiều cành, nhánh sáng tạo sum suê hoa, trái…

Ngay nhan đề “viết trong bóng tối. Amen” của họ Lê, tôi cho rằng, nó cũng đã là một thực chứng cho những tựu thành, những kết tủa đẹp đẽ, ý nghĩa nằm trong nỗ lực không ngừng đi tới, của ông.

Viết hay vẽ trong “bóng tối” là gì? Nếu không phải là một chỉ danh, xác nhận những dòng thơ (hay những sắc màu, đường nét, hình tượng) vốn đi ra từ vô thức hoặc tiềm thức? Tâm lý học nhập môn từng giải thích đại để, sinh hoạt ý thức của con người có hai phần. Phần hiện ra rõ trên mặt nước của một dòng sông, là phần ý thức. Phần chìm khuất dưới mặt nước là vô thức hoặc tiềm thức. Nói cách khác, tiềm thức là một thứ “tàng kinh các”, một kho chứa những cảm nghiệm, những thành / bại, buồn / vui, khổ đau hay hoan lạc của con người.

Là người có đôi chút kinh nghiệm trong lãnh vực chữ, nghĩa, tôi thấy có dễ cũng nên đề cập tới sự hiện ra bất ngờ của những con chữ nơi trang viết Lê Thánh Thư. Bất ngờ hiểu theo nghĩa không một dự báo, những con chữ ở cõi thinh không nào đó, thình lình hiện ra, rớt xuống và, ở lại trong một câu, một khổ thơ. Chúng nằm ngoài chủ tâm kiếm tìm, kiến tạo của họ Lê.

Đó là những con chữ vẫn theo tôi, như được một bàn tay bí nhiệm, cầm lấy những ngón tay thi sĩ, để sai khiển thi sĩ viết xuống. Dù cường điệu tới đâu, trước những con chữ bất ngờ “đắc địa”, mang ánh sáng chói lòa về cho nguyên một khổ hay một bài thơ, tôi nghĩ, tác giả cũng không thể xác quyết rằng ông ta đã có ý thức, chủ tâm từ trước rằng, tới câu thơ kia, con chữ đó sẽ xuất hiện ở vị trí ấy!!!

Ở một cấp độ khác, thi ca còn mang lại cho tác giả, cho người đọc những con chữ tuy không mang tính tương thông huyền bí giữa thinh không và con người; nhưng nếu nó có được tính dữ dội thì, những con chữ đó, cũng có khả năng nâng cấp bài thơ. Chúng cũng chứng tỏ được phần nào, mức độ tài hoa của tác giả.

Sự có mặt của những con chữ như thế, (cũng như sự có mặt của một tảng mầu, một đường nét, một hình tượng trong một họa phẩm), thường tạo những cơn địa chấn nhỏ về phương diện mỹ học hoặc tu từ học.

Khả năng gây mê người đọc (người xem tranh) của loại chữ, nghĩa vừa kể, theo tôi, là một tương tác mang tính siêu hình. Tôi nghĩ, khó ai có thể lý giải một cách tường tận, rốt ráo. Cũng như người ta không thể thuật lại một cách minh bạch sự tương quan giữa thần linh và những trang thơ, bức tranh, bản nhạc…của nhiều tác giả nổi danh trong lãnh văn học và nghệ thuật.

Thay vì theo thứ tự, đi từ bài thơ đầu tiên của thi phẩm “vtbt.A,” tôi mở đọc bài cuối. Bài thơ nhan đề “Mọi ngày, ghi…” của Lê Thánh Thư:

“Ngày cả gió

“em về

“nụ cười phủ bóng đèn

“đỏ cái nhìn trai tân

“phồn hoa

“bần thần

“kẻ mộng

“ngậm bùa ăn ngải

“đêm mê

“giấc đàn bà…”

(vtbt.A. trang 128.)

 

Tôi hiểu, hai chữ “bóng đèn” dẫn tác giả tới tính từ “đỏ” (màu sắc hay cường độ dòng điện.) Tính từ “đỏ” lại gọi, mời tác giả đi qua phần thị giác là “cái nhìn”. Nhưng hai chữ “trai tân”, định danh cho một người thanh niên còn ngây thơ, trong trắng trong vấn đề nữ giới, thì tôi không nghĩ nó đã được chuẩn bị từ trước. Tôi cho nó có mặt tình cờ. Nó bật ra, ở lại cuối câu thơ, như một thú nhận vội-vàng-hân-hoan của một cảm xúc đột biến. Nó nâng, đẩy cả khổ thơ vào không gian bất ngờ, mới mẻ.

Cũng thế, ở bài thơ thứ ba (vẫn tính từ cuối sách, tính ngược lên,) nhan đề “Blue trên cánh đồng”:

 

“Người đàn ông trở về đứng trên thành cầu

“nghe tiếng tù và tan trên cánh đồng nắng hạn

đôi mắt màu tro

“ứa ra những hồi niệm nhiều năm mê sảng.

 

“Tiếng tù và loang kín mặt sông con

“người đàn ông ném đốm lửa chưa tàn

“cánh đồng rạn vỡ chân chim

“nơi này

“cỏ không thể xanh.

 

“Nơi đây người thức bên kia sông

“bao dáng hình củi mục tưởng trọn đời không thể sống

“vẫn hom hem nụ cười góa bụa

“vẫn hồn quê thanh khiết sáng cả sân nhà

“vẫn thân cò lặn lội qua sông

“bàn chân cắm xuống mặt đất nhếch nhác mùa màng

“người mắt màu tro

“lặng lẽ

“tẩm mình trong nhang khói.”

(vtbt.A. trang 125).

 

Đó là ba khổ thơ đầu của bài “Blue trên cánh đồng”. Cả ba khổ thơ đều mang tính mô tả cảm nhận, hành động của người đàn ông có “đôi mắt màu tro”, “đứng hát trên cầu”, “nghe tiếng tù và” - - Cùng những con đường mà, tiếng tù và vẽ ra, dẫn người đàn ông tới những cảnh vật (thiên nhiên), tới những phần số bấp bênh, bèo bọt (con người)…

Đó là những bức tranh mà, chúng ta có thể đặt kề bên nhau, thành những “bộ tam”, “bộ tứ” có cùng một tông màu xám, hợp.

Qua gần 20 chục câu thơ, cá nhân tôi, không cảm nhận được một con chữ nào mang tính bất ngờ hiện ra, rớt xuống dọc trên lộ trình vận hành chữ nghiã của bài thơ. Phải đợi tới khổ thơ thứ tư, khổ thơ chót:

“Tiếng tù và cày xới hoàng hôn

“trên cánh đồng tràn ngập mộ chí

“đâu đây vẳng tiếng kêu

“phải tiếng linh hồn gọi nhau từ làng dưới ngược lên

“níu ngày chậm lại

“chậm lại tàn hương.”

(vtbt.A. trang 126.)

Khi họ Lê dùng động từ “cày xới”, tuy là một dạng của kỹ thuật nhân cách hóa và, độ nóng của hai chữ “cày xới” chưa tới mức như hai hòn than hồng, có thể làm “phỏng” mắt người đọc - - Nhưng, với tôi, tự thân, nó cũng đã có được cho nó, tính dữ dội của con chữ! Khi đi theo ngay sau nó là hai chữ “hoàng hôn”.

.

Tôi nghĩ, độc giả, luôn cả những người cùng giới, nếu đọc kỹ, với con mắt có ít, nhiều hiểu biết về kỹ thuật làm thơ, cũng như về tu từ và, mỹ học, sẽ không khỏi ngạc nhiên khi rải rác trong thi phẩm “Viết trong bóng tối. Amen” của Lê Thánh Thư, còn có rất nhiều những con chữ bất ngờ, không thua gì hai chữ “cày xới” trong cụm từ “cày xới hoàng hôn.” Thí dụ:

Em ạ

“Đường soi khuya khoắt đom đóm

“”Mộng lẩn vào đâu đi đâu

“Quẫn mái nghèo

“Lệch gió

“Rẻo vườn thất lộc

“Người đi.

 

“Đom đóm về

“Vẽ lửa sân hoang

“Đêm căng chỉ ngang nhà

“Em dập dềnh

“Rách lụa…”

( Trích “Em, lụa là”, vtbt.A, trang 92.)

Với hai khổ thơ, cộng chung chỉ có 12 câu, vậy mà đã có khá nhiều chữ sống động, ấn tượng như “quẫn” (mái nhà), hay, “đêm ‘căng chỉ’ ngang nhà”…

 

Hoặc:

“Ngày lẻ

“Con chim đầu tiên chết khát

“Người nơi đâu về

“Bên đường rung rảy váy

“Khoe bầu vú hoa thuốc phiện

“Đêm dầm ớt hiểm…”

((Trích “Ngày lẻ,” vtbt.A, trang 74.)

Với cá nhân tôi, ảnh-dẫn / guilding image người đàn bà “rung rảy váy” đã lung linh biết bao…Nhưng khi mạch thơ đi tới kết luận mang tính biểu cảm cao là “Khoe bầu vú hoa thuốc phiện / Đêm dầm ớt hiểm” thì, đó không phải là những con chữ (hình ảnh) ta có nhiều cơ hội bắt gặp nơi những tác giả khác.

Tôi không biết, Lê Thánh Thư sau một thời gian tạm “quên” thi ca để vung cọ với những rung động, tìm kiếm mới mẻ, mở ra những chân trời khác, đã ảnh hưởng vào cõi giới thi ca họ Lê ra sao (?) Khi ông trở về đầu nguồn, hay ngược lại?

“Đường phía núi

“Cỏ tàn khô vất vơ

“Em lùa bò đi để lại mùi da ngai ngái

“Dưới chân núi

“Về muộn

Gió thơm mùi thuốc rê tẩm mật

“Khói vẽ trời xanh

“Khói cuộn người mơ mòng

“Chiều cúi mặt mà đi

Da thịt người xông khói.

 

“Mùa quê bụi bặm

“Cây rạt rào gió

“Cỏ khô rống tiếng bò

“Đường im trường như rắn…”

(Trích “Mùi Quê,” vtbt.A. Trang 120)

 

Hoặc:

“Giữa thế giới đầy lông chó rụng

“Một người

“Bí mật mọc răng nanh

“Nhai rau ráu nhã nhạc

“Ếm giọng thất truyền.

 

“Giữa mùa định kỳ thay lông chim biếng hót

“Một người

“Công khai lột lưỡi

“Rống lên

“Khúc Caprice 24 của Paganini.

 

“Giữa bóng đen sổ nét mực tàu

Bầy muỗi đói vẽ rồng bay ánh sáng

“Một người

“Mơ thành sâu bọ

“Đo mình trên đường ngũ cốc.

 

“Giữa giấc mơ hình sự

“Thấy đám tù nhân chỉ điểm từng khuôn mặt

“Một người

“À í a

“Requiem…Requiem…”

(“Viết trong bóng tối. Amen,” trang 84. Trọn bài.)

Tôi cũng không biết, khi họ Lê triệt để khai thác đặc tính của màu Acrylic là sự khô nhanh và, độ dầy của loại màu này, cho phép ông tạo thành chiều thứ ba nơi những bức tranh tưởng chừng như không có matière của ông?

Với số người không hiểu rõ kỹ thuật và, những đổi mới của hội họa hiện đại thì, tranh của Lê Thánh Thư là loại tranh phẳng, bẹt (flat.)
Không có matière hiểu theo nghĩa không được tô, đắp nhiều lớp màu lót, trước khi chính thức tạo hình hoặc phân bố màu theo cảm xúc. Sự thực tranh của họ Lê, kể cả những bức ông vẽ một cách cực kỳ đơn giản (nhưng khá khó khăn khi thể hiện) là hình ảnh những cây lau, sậy, những tơ trời, những giải khói vươn giữa khoảng trời bát ngát, nếu tinh ý, sẽ nhận ra độ dày, nổi cộm của chúng.

Điển hình, cụ thể hơn, tôi được xem một bức tranh Lê Thánh Thư, với trọng điểm là con mắt cách điệu. Ông đã dùng dao khoét một đường cong, dài sâu giữa mí mắt và, con mắt, khi Acrylic còn ướt. Sau đấy, ông phết một lớp Oil painting màu xanh xám, để người xem tranh, chỉ cần một chút tinh ý thôi, cũng sẽ nhận ra độ sâu của con mắt hay, chiều thứ ba mà, bức tranh của ông muốn biểu hiện.

Ghi lại một trong những nỗ lực làm mới hội họa của Lê Thánh Thư, tôi chỉ muốn nhấn mạnh: Tính khai phá, nỗ lực mở đường của họ Lê, là bản chất ông (?) Từ đó, tôi cho rằng, với khởi nguồn thi ca, Lê Thánh Thư đã rất sớm, có cho riêng mình tiêu chí: Cách tân. (*)

Nhưng, vẫn theo tôi, dù ở lãnh vực hội họa hay thi ca (nhất là thi ca) họ Lê không chỉ có một trăn trở duy nhất: Làm mới. Tâm hồn Lê Thánh Thư (qua thi ca) còn cho thấy rất rõ những đau đáu của ông về đời thường. Về thân phận hèn mọn của con người trong cuồng nộ giông, bão thời thế:

“Mày tự khai

“Hay mày không

“Mày phản động

“Hay mày không

“Mày muốn sống

Hay mày không

“Mày tự do

“Hay mày không…

(Trích “Bài khảo cung (vấn & đáp)” vtbt.A., Trang 85.)

 

Hay:

“Có những điều nên nói lại thôi

“Mỗi người

“Một mòn mỏi

“Mỗi người

“Một nanh sói

“Mỗi người

“Một giấc mơ còi…”

(Trích “Ba bài tự khai”, vtbt.A. Trang 89.)

 

Hoặc nữa:

“Sợ hãi đã ngấm vào máu

“Sợ hãi đã ăn tận xương

“Xứ sở này

“Người sợ tiếng động

“Người sợ đám đông

“Người sợ tường lửa

“Người sợ gõ cửa

“Người sợ chó sủa

Người sợ mèo kêu

“Người sợ chim hót

“Người sợ nhòm ngó

“Người sợ tiếng chuông

“Người sợ nhịp chân

“Người sợ tin nhắn

“Người sợ giấy mời

“Người sợ lời cuối

“Người sợ thăm hỏi…

(Trích “Về nỗi sợ hãi”, vtbt.A. Trang 112.)

Hiển nhiên, trong cảm nhận của tôi, Lê Thánh Thư là một nhà thơ, một họa sĩ tài hoa, với nhiều biến khúc huê dạng.

Tuy nhiên, nếu có dịp, tôi sẽ hỏi ông, chỉ với bài thơ “Về nỗi sợ hãi”, nếu phải chuyển thể qua đường nét và, sắc mầu, ông sẽ vẽ thành bao nhiêu bức tranh?

Và, ông có tin đó là những chuyển thể trung thực?

(Calif. June 2012)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Tư 2022(Xem: 12261)
12 Tháng Mười Hai 2021(Xem: 1243)
23 Tháng Sáu 2021(Xem: 1472)
22 Tháng Sáu 2021(Xem: 1104)
22 Tháng Sáu 2021(Xem: 954)
22 Tháng Sáu 2021(Xem: 934)
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-360-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 30357)
Bài thơ đầu tiên (?) của Tô Thùy Yên được giới thiệu trên Sáng Tạo, gây tiếng vang lớn và, dư âm của nó, kéo dài nhiều năm sau, là “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” viết tháng 4 năm 1956.
(Xem: 78)
Nhưng tôi vẫn yêu (yêu lắm,) việc làm của bạn. Bởi vì, với tôi, tự thân đời sống bạn tôi, đã là một trường khúc
(Xem: 11973)
Hay ước nguyện cuối cùng trước khi nhắm mắt, không chỉ của giới trẻ mà, của rất nhiều văn nghệ sĩ thời đó là, một lần được đứng dưới những ngọn đèn vàng của ga Lyon!
(Xem: 13634)
Trước khi theo đơn vị dư cư vào miền Nam, năm 1954, nhà văn Văn Quang bị động viên khóa 4 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
(Xem: 463)
ông được trao huy chương vàng cuộc triển lãm hội họa, do cơ quan Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa UNESCO, thuộc tổ chức Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Roma năm 1967.
(Xem: 7091)
Đầu mùa Dã quỳ nở năm nay, Du Tử Lê lặng lẽ trở lại Pleiku, miền đất mà ông đã gửi gắm một thời thanh niên của mình ở đấy.
(Xem: 4469)
Nói như Orchid Lâm Quỳnh, không có cái gọi là “better place” cho bố, vì bố đã rất ấm áp, bình an trong ngôi nhà đó. Thiên đàng ở đâu thì kệ nó chớ!
(Xem: 305)
Du Tử Lê là Thi Sĩ Một Đời. Thi Sĩ Viết Hoa, tôi viết và biết về thi sĩ như thế. Ông không chỉ làm thơ. Ông sống với thơ. Sống bằng thơ. Thơ với ông là một.
(Xem: 3316)
trong biết bao nhiêu lần âm thầm nói lời chia biệt từng thân thương, gia đình, bằng hữu,… lần này là thật.
(Xem: 3026)
Tôi đã thảng thốt khi nghe tin Du Tử Lê qua đời, từ cú điện thoại một người bạn làm thơ và làm báo.
(Xem: 14520)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 4043)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 4447)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 4968)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 5036)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 25238)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 19434)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 16980)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 20409)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 18187)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 16849)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 14387)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 13489)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 13638)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 12634)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 12179)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 19295)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 26496)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 31276)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 22528)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 24606)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 27491)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 26920)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 22625)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
2,319,686,071,855,368,569