NGUYỄN QUANG THIỀU - Một người đã về tới nhà mình

25 Tháng Mười Một 20254:22 CH(Xem: 170)
NGUYỄN QUANG THIỀU - Một người đã về tới nhà mình
(Đêm qua mơ gặp dịch giả Diễm Châu ngồi cà phê với nhóm nhân sỹ Hà Đông. Thế là ông đã rời xa thế gian này đã 19 năm rồi. Ông khen cà phê Hà Đông giống cà phê Paris. Ông nâng ly cà phê và nói "Bây giờ ở đâu cũng buồn. Thiên đường cũng chẳng nhiều niềm vui." Tỉnh dậy tôi nhớ ông rất nhiều. Xin đưa lại bài viết về ông trên báo Tiền Phong cách đây 18 năm)


Vào rạng sáng ngày 28 tháng 12 năm 2006, Diễm Châu đã trút hơi thở cuối cùng rời bỏ thế gian trong một ngôi nhà ở Paris. Mấy hôm sau tôi mới biết tin đau buồn này qua email của nhà thơ, dịch giả Hoàng Ngọc Biên và nhà văn, nhạc sỹ Hoàng Ngọc Tuấn. Tôi không biết khi ra đi ông có đau đớn thân xác hay dày vò điều gì trong tâm hồn mình không? Hỏi vậy nhưng tôi tin ông đã ra đi thanh thản tựa mây bay. Bởi với những gì ông dâng hiến cho cuộc đời này thì ông phải là người được ban phước cho chuyến đi cuối cùng rời khỏi thế gian như thế. Sau này đọc thư của nhà thơ, dịch giả Hoàng Ngọc Biên tôi biết ông ra đi trong khi ngủ lúc gần sáng. Đấy là lúc Paris yên tĩnh nhất.

Diem_Chau-_Hinh_Hoang_Ngoc_Bien-content
Diễm Châu (Hình Hoàng Ngọc Biên)


Diễm Châu là ai? Câu trả lời không dễ lắm đối với những bạn đọc thông thường Việt Nam. Nhưng với những người quan tâm đến văn học thế giới, đặc biệt là thơ ca thì ai cũng biết ông. Tôi đọc rất nhiều những bản dịch của ông nhưng mới chỉ quen biết ông bốn năm trở lại đây. Nhưng thời gian ngắn ngủi ấy cũng đủ cho ông trở thành một người bạn vong niên yêu quí của tôi. Có một dịch giả mà tôi rất kính trọng, đó là Hoàng Ngọc Biên. Đầu năm 1990, tôi được đọc tập thơ Tĩnh vật và những bài thơ khác (Nhà xuất bản Thuận Hoá) của J. Brodsky, giải Nobel văn học 1987 do Hoàng Ngọc Biên dịch. Ngay lập tức, Brodsky trở thành người thầy tinh thần thi ca của tôi. Quả thực trước đó, tôi nghe người ta nói về sự vĩ đại của J.Brodsky. Nhưng tôi rất băn khoăn về nhận định này khi đọc một số bản dịch của các dịch giả khác. Lúc đó, tôi chẳng thể nào có được một bản tiếng Anh thơ ông. Đến khi đọc bản dịch của Hoàng Ngọc Biên thì tôi đã thốt lên: Brodsky, ông quả là một người khổng lồ. Từ đó tôi có ý “săn lùng” các bản dịch thơ J. Brodsky của Hoàng Ngọc Biên. Tôi có nghe nói một người đàn ông ở Sài Gòn giữ nhiều bản dịch thơ J. Brodsky của Hoàng Ngọc Biên. Tôi đã nhờ người xin những bản dịch đó. Nhưng anh đã không cho. Rồi tôi cũng liên lạc được với Hoàng Ngọc Biên. Và từ ông, tôi làm quen với Diễm Châu. Bởi Hoàng Ngọc Biên và Diễm Châu là hai dịch giả danh tiếng và là bạn thân của nhau mấy chục năm qua. Tôi viết thư cho Diễm Châu để cám ơn ông đã dịch những nhà thơ nước ngoài cho cá nhân tôi và cho nhiều người làm thơ Việt Nam đọc. Ông viết thư trả lời tôi. Và chúng tôi cứ thế liên lạc thường xuyên với nhau.

Tôi không biết nhiều lắm về tiểu sử Diễm Châu. Tôi chỉ biết ông là người Việt Nam dịch nhiều thơ của các nhà thơ nước ngoài nhất ra tiếng Việt. Hầu hết những người làm thơ Việt Nam trong nước không biết ngoại ngữ. Bởi vậy những bản dịch thơ vô cùng quan trọng đối với họ. Đã đôi ba lần tôi hỏi ông đã dịch bao nhiêu nhà thơ trên thế giới và tổng cộng khoảng bao nhiêu bài. Thực ra tôi muốn viết về ông và những công trình dịch thuật của ông. Nhưng lần nào ông cũng tế nhị nói một ngày nào đó ông sẽ trả lời tôi. Thực ra ông không muốn trả lời tôi về chuyện đó. Bởi dịch thuật thơ ca với ông là tình yêu chứ không phải là một sự nghiệp. Nhưng bây giờ thì tôi không được nghe ông trả lời nữa. Bây giờ, mỗi khi mở hộp thư tôi sẽ chẳng bao giờ thấy trong có thư của ông.

Một vài người có biết công việc dịch thuật của Diễm Châu nói ông đã dịch khoảng 100 tập thơ của các nhà thơ danh tiếng nước ngoài. Một con số khổng lồ. Nhưng tôi nghĩ còn nhiều hơn thế. Mà đó chỉ là thơ. Còn tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, kịch và những sáng tác mấy chục năm qua của ông nữa. Tôi chỉ biết mỗi khi tôi cần đọc một tác giả nào đó của một quốc gia nào đó trên thế giới, Diễm Châu đều đáp ứng nhu cầu của tôi. Và không một người Việt nào từ trước tới nay lại có một khối lượng dịch nhiều như ông. Thực tế, toàn bộ thơ dịch của Việt Nam có lẽ không đồ sộ và có hệ thống bằng những gì Diễm Châu đã làm. Khoảng tám tháng trước đây, báo Văn Nghệ có làm một số chuyên đề về văn học Na-uy. Tôi đề nghị một số dịch giả trong nước giúp tôi làm số báo này. Nhưng hầu hết mọi người đều lắc đầu vì họ biết quá ít về văn học Na-uy. Trong lúc lúng túng, tôi đã nghĩ đến Diễm Châu. Tôi viết thư cho ông. Ông đã trả lời tôi sau một tiếng đồng hồ. Ông bảo ông sẵn sàng giúp tôi nếu tôi cần bất cứ gì về nền văn học này. Và ông đã đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu của tôi. Số báo đặc biệt ra đời với khoảng 70% bài dịch của Diễm Châu. Chính thế tôi phải dùng nhiều bút danh khác nhau cho những bản dịch của ông của ông.

Lần nào viết thư cho tôi ông cũng mở đầu bằng câu: Nguyễn Quang Thiều thương mến. Có hai nhà thơ ở phía Bắc ông thường viết thư thăm hỏi mà tôi biết: đó là nhà thơ Mai Văn Phấn và tôi. Nếu viết thư cho Mai Văn Phấn không thấy trả lời thì ông lại vội vàng viết thư cho tôi với đầy lo lắng về một điều gì đó có thể xẩy ra với một nhà thơ đang sống trong thành phố cố hương ông. Và khi không nhận được thư tôi thì ông lại viết cho Mai Văn Phấn để hỏi thăm tôi. Những lá thư của ông gửi cho chúng tôi lúc nào cũng dịu dàng, cũng ân cần, đôi lúc lo lắng nhưng lúc nào chúng tôi cũng nhận thấy dù chỉ mơ hồ một nỗi cô đơn từ con người ông. Nhưng có lúc ông không trả lời thư chúng tôi. Chúng tôi cũng lo lắng cho sức khoẻ của ông. Ông như biến mất và rồi đột ngột xuất hiện. Ông nói ông lo rằng chúng tôi có thể bị liên luỵ khi quan hệ với một Việt kiều và thế là ông không viết thư cho chúng tôi nữa. Tôi bật cười về ý nghĩ này của ông. Có lẽ do tuổi tác mà ông nghĩ thế chăng? Hay bởi những ám ảnh trong quá khứ đôi lúc lại trở về trong ông. Tất nhiên chúng ta đã có một thời như thế. Nhưng bâygiờ mọi chuyện đã khác xưa quá nhiều rồi. Và phải khác xưa chứ không còn con đường nào khác.
Mấy năm trước Diễm Châu về nước. Đó là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Nhưng chúng tôi như đôi bạn cũ xa nhau lâu ngày giờ gặp lại. Không cách biệt. Không ý tứ. Không nghi ngại. Ông chỉ ở Hà Nội hai ngày rồi đi Hải Phòng. Đây là thành phố cố hương ông. Ông trở về đó đầy hồi hộp và hoang mang. Ông nói ông muốn trở về hải Phòng để tìm lại ngôi nhà xưa của cha mẹ ông, nơi ông đã sinh ra, lớn lên và rời bỏ. Ông muốn được bước vào ngôi nhà ấy và ngồi xuống trên một chiếc ghế mây cũ trong một khoảng tối của ngôi nhà để được nghe chính bước chân thời thơ ấu của ông vọng về. Trở về để tìm lại nơi ông thường giấu bố mẹ một cuốn sách văn học bằng tiếng Pháp để đọc. Trở về để quay lại Paris tráng lệ và ngập tràn ánh sáng và nói với bất kỳ một người Pháp nào rằng : "Ông (bà) chưa biết ngôi nhà của tôi ở Hải Phòng chứ gì? Hãy đến đó đi. Đến đi.’’ Ông cũng muốn về Hải Phòng để gặp mặt một người bạn thơ mà ông chưa từng gặp: nhà thơ Mai Văn Phấn. Nhưng chuyến đi ấy, chuyến trở về thành phố cố hương ấy vô tình lại là chuyến trở về cuối cùng khi ông còn sống trên thế gian này. Và ông đã không tìm lại được ngôi nhà đó. Nhà thơ Mai Văn Phấn cứ nhắc ông hãy cố nhớ chính xác lại xem có đúng ngôi nhà ông đang đứng trước cửa có phải là nhà của ông không? Nhưng ông đã lắc đầu. Ông không tìm lại được ngôi nhà của mình. Ông nói ông đã quên mất rồi. Ông không thể tìm lại một dấu vết quen thuộc nào nữa. Ông đã nói dối. Đó chính là ngôi nhà của ông. Ông nhận ra ngay khi nhìn thấy ngôi nhà mặc dù ngôi nhà ấy đã thay đổi và những người chủ ngôi nhà nhìn ông vừa xa lạ vừa băn khoăn tự hỏi ông là ai và đến có việc gì. Một nỗi lo ngại và một nỗi tủi thân ùa vào lòng ông. Chính thế ông không bước vào ngôi nhà ấy. Ông vội rời bỏ ngôi nhà. Đêm ấy trở về khách sạn ông đã ngồi co ro như một cậu bé ở nhà trong đêm một mình mà cha mẹ đều đi vắng. Ông đã lặng lẽ khóc.

Nhà thơ Mai Văn Phấn đưa ông về nhà mình ở Phát Diệm. Đấy chính là nơi ông từng là một học sinh trường Dòng. Ông vô cùng ngạc nhiên khi thấy các giáo dân ở đó lấy xà phòng đánh cho sạch những bức tường rêu phong của nhà thờ. Phải chăng các giáo dân nghĩ rằng Chúa sẽ thích những Thánh đường trắng bong được cọ rửa bằng nước tẩy cao cấp quảng cáo trên tivi ngày ngày và thơm ngát mùi xà phòng ngoại? Điều Chúa mong là một tâm hồn được tẩy rửa chứ không phải những bức tường Thánh đường cũ kỹ. Chúng ta đã chạy theo chủ nghĩa hình thức quá lâu rồi. Lâu đến nỗi mà nhiều con chiên của Chúa cũng bị chủ nghĩa hình thức biến thành những kẻ ngớ ngẩn. Trong chuyến đi ấy, Diễm Châu vô cùng mừng rỡ khi gặp lại người bõ già. “Tôi là Rao, Rao đây.” Ông luống cuống nhắc cái tên cúng cơm của ông. Nhắc như sợ không ai còn nhớ cái tên ấy nữa. Nhắc như sợ chính ông quên mất cả cái tên giản dị và nôm na được sinh ra từ xứ sở này. Nhắc như nghĩ rằng nếu chỉ nhắc chậm một giây thì nguồn cội của ông bị xoá sạch khỏi ký ức ông và không bao giờ có khả năng hồi phục. Nhưng người bõ già không nhận ra ông. Người bõ già giương đôi mắt đục nhìn ông và lắc đầu. Chuyến đi ấy làm ông ít nói hơn và tôi nhận thấy sự buồn bã trong ánh mắt và giọng nói của ông. Những nơi chốn cất giữ những ngày tháng trong sáng và đẹp nhất của đời ông không còn nhận ra ông. Thời gian là như vậy. Nhưng cho đến giờ tôi vẫn cứ tự hỏi sao ông không bước vào ngôi nhà của tuổi thơ ông ở Hải Phòng ngày ấy và ngồi xuống một chiếc ghế nào đó để chờ đợi ký ức chạy về và gọi đúng cái tên cúng cơm của ông?

Mấy tháng trước ông viết email cho tôi thưa dần và ngừng hẳn. Tôi viết cho ông nhưng không thấy hồi âm. Tôi lo lắng. Nhưng rồi một hôm Bưu điện thị xã Hà Đông (bây giờ đã là Thành phố Hà Đông) chuyển cho tôi một bức thư. Chiếc phong bì màu vàng nhạt với những nét chữ viết tay. Đó là thư của Diễm Châu. Ông nói ông không dùng internet nữa. Ông cũng không nói lý do vì sao. Nhưng tôi nghĩ sức khoẻ ông không cho phép ông ngồi suốt ngày đêm trước computer. Vì trước kia, cứ mỗi khi viết email cho ông là tôi nhận được thư trả lời của ông ngay lập tức dù lúc đó là đêm hay sáng. Khi nhận được thư tay của ông, tôi không thể nào ngờ đó là lá thư cuối cùng ông gửi cho tôi. Tôi vẫn cứ nghĩ đôi ba tuần nữa ông lại ngồi xuống trước computer và tiếp tục dịch các nhà thơ thế giới và viết: Nguyễn Quang Thiều thương mến. Nhưng tất cả đã dừng lại.

Sau khi nghe tin Diễm Châu mất mấy ngày, nhà thơ Mai Văn Phấn gửi đến cho tôi một bài thơ tiễn biệt Diễm Châu. Cả Mai Văn Phấn và tôi mới chỉ gặp Diễm Châu có một lần. Nhưng chúng tôi đã đọc những gì ông viết và những gì ông dịch từ lâu và sẽ còn rất lâu nữa. Chính những gì ông làm một cách trong sáng và đắm mê mấy chục năm nay đã làm cho chúng tôi tin ông và kính trọng ông. Và dưới đây là bài thơ của nhà thơ Mai Văn Phấn mà tôi muốn để vào trong bài viết này như một tiếng kèn trompet:

GIẤC MƠ VÔ TẬN

(Kính viếng hương hồn anh Diễm Châu)
Mưa thôi làm anh lạnh
đổ vào giấc mơ gần sáng
Những con sóng đục ngầu
Vỗ vào bãi sú lúc sinh anh
Bầu trời không mái che
Ngôi sao soi tỏ cặp kính dày
đặt tạm lên bàn phím
Buổi sáng, ngày 28 tháng 12, mưa rơi
Mưa lạnh thấu xương!
Đất lạnh thấu xương!
Lật trang sách anh còn để ngỏ
Tiếng trẻ con khóc trong vòm cây
Trong cánh chim vừa tự lấp đầy*
Trong đám mây bay thấp…
Gió lùa về
Làm khăn trắng cuốn quanh gốc sú
Trên đỉnh trời linh cữu nhấp nhô

Hải Phòng, 4/1/2007
* ý thơ Diễm Châu
Cũng trong một đêm gió lạnh thổi về thị xã Hà Đông tôi đã viết một bài thơ về Diễm Châu. Thị xã Hà Đông là nơi mà Diễm Châu hứa lần tới về Việt Nam, ông sẽ đến đó để uống cà phê với một số anh em văn nghệ sỹ trú ngụ tại thị xã này ở cái quán mà chúng tôi tự đặt tên: Cà phê Paris Phố cũ. Nơi mà nhiều nhà thơ Việt Nam sống ở trong nước và nước ngoài và một số nhà thơ ngoại quốc đã từng đến và vừa uống cà phê vừa bàn chuyện văn chương với chúng tôi. Sau khi chúng tôi in những gì Diễm Châu dịch và viết trên tờ Văn Nghệ, tôi viết thư đề nghị ông cho tôi một địa chỉ của người thân của ông trong nước để gửi nhuận bút. Nhưng ông đã viết thư cho tôi: "Nguyễn Quang Thiều thương mến, hãy cho tôi được dùng chút nhuận bút nhỏ này để mời anh em văn nghệ sỹ ở Hà Đông uống cà phê. Như thế lòng tôi thật hạnh phúc. Tôi mong một ngày sẽ về Việt Nam để đến Hà Đông thăm các anh. Thương mến.’’ Tôi đã thay mặt anh mời anh em văn nghệ sỹ bạn tôi ở Hà Đông uống cà phê.

Bây giờ Diễm Châu đang ở đâu trong vũ trụ vô bờ bến này? Tôi tự hỏi. Nhưng sau câu hỏi tôi nhìn thấy ngay ông đang ngồi trên chiếc ghế mây cũ trong ngôi nhà ở Hải Phòng nơi ông đã sinh ra, lớn lên và rời bỏ. Rồi ông đứng dậy đến một nơi ông đã từng cất giấu cuốn sách viết bằng tiếng Pháp. Diễm Châu, một con người đã cả đời lặng lẽ dịch và viết những trang sách, một người sống mấy chục năm ở Paris diễm lệ, một người đã đi qua bao thành phố lộng lẫy của Châu Âu mà vẫn khắc khoải với ước mơ được thanh thản bước chân vào ngôi nhà cũ của mình ở Hải Phòng và ngồi xuống bình yên trong ngôi nhà ấy. Tất cả chỉ có thế. Không chỉ một mình Diễm Châu mơ ước thế mà nhiều người, mà cả tôi, những người đang sống trên chính xứ sở mình và có khi chỉ cách ngôi nhà mình sinh ra và lớn lên vài ki-lô-mét cũng vẫn mang giấc mơ được bước vào ngôi nhà của mình một cách thanh thản và ngồi xuống trong bình yên. Điều tôi vừa nói nghe ngờ nghệch như lời của một người già nua đã quên lãng nhiều điều nhưng nó lại làm chính lòng chúng ta nhiều lúc nhói đau. Bởi có những người chỉ khi chết và chỉ bằng cái chết mới về được nhà mình một cách thanh thản. Và bây giờ, tôi cũng có thể kết thúc những dòng chữ viết về ông. Bởi tôi đã nhìn thấy ông bước được vào ngôi nhà cũ của mình mà trước đó không lâu ông đã phải tự nói dối chính bản thân là ông không còn nhớ được gì nữa.

Diễm Châu! Ông đã về tới nhà mình.
Amen.
15 Tháng Mười Hai 20254:36 CH(Xem: 39)
Sau khi ông Hàn Thịnh về quê sống, ông chẳng có gì ngoài những kỷ vật ông mang theo.
05 Tháng Mười Hai 20258:52 SA(Xem: 94)
Hay anh là kẻ lạc đường và không bao giờ tìm thấy lối trở về như nhiều người mà họ lại không bao giờ tin rằng họ đã lạc đường.
30 Tháng Mười Một 20259:11 SA(Xem: 129)
Cánh rừng nghệ thuật một thời xanh tươi phồn thịnh đang rơi từng "chiếc lá cuối cùng," trong ý nghĩa thân xác kiếp người.
15 Tháng Mười Một 20255:32 CH(Xem: 204)
Sau này đọc nhiều hơn, tôi nhận ra, nhiều nhà văn khác cũng nhìn về Doãn Quốc Sỹ như một nhân vật của cõi chư thần.
05 Tháng Mười Một 20251:45 CH(Xem: 225)
Thanh Tâm Tuyền đã lấy cả 2 bài thơ Đôi Bờ và Đôi Mắt Người Sơn Tây phổ vào một ca khúc.
25 Tháng Mười 202510:50 SA(Xem: 388)
Tùng Lâm mất vào lúc 5 giờ sáng Chủ Nhật ngày 15 Tháng Mười, 2023.
10 Tháng Mười 20255:16 CH(Xem: 456)
Thật vui khi được biết những năm cuối đời, lãng tử Tô Hải đã có một bến đỗ yên bình – một người vợ yêu chồng, tự hào về chồng.
04 Tháng Mười 20255:44 CH(Xem: 342)
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông.
22 Tháng Chín 20255:22 CH(Xem: 679)
Nhà văn Tiểu Tử, 95 tuổi, vừa từ trần tại Noisy le Grand, ngoại ô Paris, ngày 18/9/2025, sau nhiều năm chống chọi với bệnh tật.
18 Tháng Chín 20255:44 CH(Xem: 481)
Anh sẽ gặp nhà văn Đỗ Phương Khanh trong cảnh giới thanh bình an lạc. Anh Chị chia tay với cõi trần sau suốt ba phần tư thế kỷ “Lên Đường” phục vụ.
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-360-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 13737)
Mừng sinh nhật 93 tuổi của nhà văn Doãn Quốc Sỹ
(Xem: 14703)
Võ Phiến là một trong những nhà văn hàng đầu của 20 năm VHNT miền Nam, giai đoạn 1954-1975.
(Xem: 12820)
ca khúc này, là một thứ kinh-nguyện-riêng của những người yêu nhau, bất hạnh. Trong số những người yêu nhau, bất hạnh, có anh C. của chúng tôi.
(Xem: 13430)
Để khuây khỏa nỗi buồn của cảnh đời tỵ nạn, nhạc sĩ Đan Thọ đã học cách hòa âm nhạc bằng máy computer.
(Xem: 24128)
Tôi, nhiều lần được thấy chị bước ra sân khấu, dịu dàng với nụ cười trẻ thơ, đứng giữa một Mai Hương, đằm thắm, một Kim Tước trầm, tịnh - - hợp ca, những ca khúc được coi là bất tử của nền tân nhạc Việt Nam, trên, dưới năm mươi năm
(Xem: 17957)
thưởng thức thơ Du Tử Lê để từ đó chúng ta cùng vươn tới cảm thông với ánh sáng, với hương thơm muôn đời của Chân-Thiện-Mỹ
(Xem: 6260)
Tên tuổi bác Lê, tôi biết đã lâu nhưng chả bao giờ nghĩ có thể, có dịp nào gặp, chứ đừng nói được trò chuyện, với một người mà mình hằng ngưỡng mộ.
(Xem: 720)
Đêm tưởng niệm thi sĩ Du Tử Lê được một nhóm bạn trẻ yêu thơ ông tự nguyện đứng ra tổ chức.
(Xem: 987)
Hạnh phúc cho những người có được để mà "cám ơn em, xin cảm ơn hạnh phúc này".
(Xem: 10848)
Hôm nay, một sáng nắng ấm, trời thu, Nam California, chúng tôi ngậm ngùi đưa tiễn một Nhà thơ.
(Xem: 21734)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 10568)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 12321)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 10430)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 14632)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 33972)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 22785)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 28727)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 26092)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 25020)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 23126)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 20362)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 21819)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 18975)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 17766)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 28544)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 35430)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 36772)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,