Có một sự thật ít ai muốn nói thẳng với người làm thơ, bây giờ tôi nói: Chỉ cần xuống dòng đúng chỗ, ngắt câu lạ, và nói bằng giọng thì thầm, thì gần như bất kỳ văn bản nào cũng có thể được gọi là thơ — ít nhất là trong tương quan bạn bè tử tế với nhau.
Khi một văn bản được gọi là thơ, nó lập tức được hưởng một chế độ miễn trừ đặc biệt. Người đọc không còn hỏi “anh đang nói gì”, mà chuyển sang hỏi “anh đang gợi gì”. Sự mơ hồ được coi là chiều sâu. Sự lỏng lẻo được gọi là khoảng trống để mở. Và sự không biết mình viết gì trở thành “trực giác thi ca”.
Không ít người làm thơ lợi dụng cơ chế này.
Họ tin rằng: Chỉ cần có nhịp, chỉ cần có hình ảnh, chỉ cần có khoảng trắng, thì ý nghĩa — nếu chưa kịp xuất hiện — cũng sẽ được người đọc tử tế bổ sung hộ. Bằng cách đó, họ áp đặt người đọc vào tình thế đang đọc một bài thơ.
Tôi nghĩ rằng đây là lúc thơ bắt đầu ngạt thở.
Bởi vì thơ, khác với lời thì thầm trong bóng tối, nó không thể sống mãi bằng thiện chí của người đọc. Một văn bản không thể đứng vững như một văn bản mang lại điều gì đó cho người đọc thì cũng không trở nên vững vàng hơn chỉ vì được chia thành dòng ngắn, ngắt dòng, vắt dòng — những thủ pháp tu từ.
Vì vậy, có lẽ người làm thơ cần trải qua một thao tác không mấy dễ chịu: Đọc lại chính mình như thể mình không phải là nhà thơ, đọc văn bản như thể nó không phải là bài thơ.
Hãy thử bỏ xuống dòng. Bỏ nhịp. Bỏ giọng nghiêm trọng. Bỏ luôn cái ý nghĩ rằng đây là thơ nên không cần rõ nghĩa. Rồi hãy tự hỏi một cách trung thực và thẳng thắn: Tôi có đang nói một điều gì không? Hay tôi chỉ đang ghi lại trạng thái mơ hồ của chính mình? Nếu buộc phải nói lại điều này cho một người khác, tôi có biết mình định nói gì không?
Đây không phải là đòi hỏi thơ phải minh xác như văn bản hành chánh, mà là một đòi hỏi tối thiểu: Đừng dùng hình thức thơ để ngụy trang cho văn bản, rồi mạo nhận nó là thơ.
Thơ thật không sợ bị đọc như văn xuôi. Nó có thể mất nhạc tính nhưng vẫn còn các yếu tố khác như áp lực của suy tưởng, trọng lượng của ngôn ngữ. Nó có thể mất vẻ đẹp duy mỹ, nhưng vẫn có lý do để tồn tại.
Chỉ những văn bản sống tầm gửi vào danh xưng “thơ” mới hoảng hốt khi bị hỏi: “mày đang nói cái gì vậy?”
Có lẽ, trước khi mong được gọi là nhà thơ, người viết nên chấp nhận một thử thách nhỏ: Đừng đòi đặc quyền cho văn bản của mình sớm quá.
Bởi vì mỗi văn bản giả thơ chiếm chỗ trên trang giấy là một khoảng không bị lấy mất. Và nếu không dọn rác, thì đến lúc nào đó, thơ thật sẽ không còn chỗ để thở.




