PHẠM HIỀN MÂY - Du Tử Lê - Này Bé Dại, Ở Cùng Tôi Mãi Nhé!

17 Tháng Sáu 20261:52 CH(Xem: 769)
PHẠM HIỀN MÂY - Du Tử Lê - Này Bé Dại, Ở Cùng Tôi Mãi Nhé!
I. VÌ NIỀM VUI TUYỆT TỰ, CHẲNG SINH SÔI

Nếu cần chọn một gương mặt thi ca tiêu biểu cho dòng văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, và sau đó là văn học hải ngoại, thì không thể không nghĩ đến nhà thơ Du Tử Lê.

Thơ Du Tử Lê như một dòng sông rộng, chứa đựng nhiều dòng chảy cảm xúc khác nhau. Nhưng các chủ đề lớn trong thơ ông vẫn là tình yêu, thân phận, chiến tranh, ly hương và nỗi suy tư mang tính triết lý về cái chết.

Không chỉ phong phú về nội dung, Du Tử Lê còn là một nhà cách tân hình thức thơ ca xuất sắc. Ông không bằng lòng với những lối mòn cũ kỹ mà luôn tìm tòi, thể nghiệm những cấu trúc mới trong thơ. Đặc biệt, ông thường xuyên dùng dấu câu ở những vị trí bất ngờ, hoặc ngay giữa dòng thơ, để xẻ đôi một từ phức hoặc một cụm từ. Ông cũng phá bỏ các nhịp chẵn truyền thống trong thơ, và sử dụng thường xuyên các nhịp lẻ, nhịp gãy.

Ngoài ra, Du Tử Lê còn là nhà thơ có biệt tài sáng tạo từ vựng. Ông kết hợp các từ ngữ theo một trật tự lạ lùng, tạo ra những khái niệm trừu tượng nhưng lại vô cùng gợi cảm.

Thơ Du Tử Lê tràn đầy nhạc tính. Số lượng thơ của ông được các nhạc sĩ lừng danh phổ nhạc, nói một cách không ngoa, cho đến nay, chưa một nhà thơ nào, cả trong và ngoài nước, có thể vượt qua được. Một phần lớn khán thính giả biết đến tên tuổi nhà thơ Du Tử Lê, cũng nhờ các tác phẩm được phổ nhạc này.

Điều làm nên sức sống bền bỉ nhất trong thơ của Du Tử Lê, đó chính là đề tài tình yêu. Ông được đánh giá là một trong những nhà thơ tình lãng mạn nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Tình yêu trong thơ ông có đủ mọi cung bậc, từ sự nồng nàn, đắm say của thuở ban đầu đến nỗi đau đớn, cào xé khi lìa xa. Thơ viết về đôi lứa của Du Tử Lê luôn mang những dự cảm chia lìa. Ngay khi đang hạnh phúc nhất, ông cũng đã lo sợ về sự tan vỡ.
*

II. BÀI THƠ TÔI MUỐN NHẮC NIỀM VUI LÀ NẤM MỘ / CHỈ NỖI BUỒN MỚI THỰC CỦA TA, RIÊNG!

Bài thơ dưới đây của Du Tử Lê nói về niềm vui và nỗi buồn trong cuộc sống loài người. Niềm vui trong cõi nhân gian thì ngắn ngủi, còn nỗi buồn, lại kỳ diệu hơn, giúp chúng ta trở về với bản thể nguyên sơ, ban đầu, thánh thiện, thành thật, không mặt nạ, không dối lừa.

TÔI MUỐN NHẮC NIỀM VUI LÀ NẤM MỘ / CHỈ NỖI BUỒN MỚI THỰC CỦA TA, RIÊNG!

này bé dại, ở cùng tôi mãi nhé
vì niềm vui tuyệt tự, chẳng sinh sôi
vì ánh sáng ném vào tôi mất tích
nhưng, nhờ em, tôi trở lại con người
này bé dại, ở cùng tôi mãi nhé
như nụ cười men ấm mắt nâu, sâu
như con gió thổi hồn tôi mất, hút
nhưng, nhờ em, tôi lại thấy tôi về
như thế đó, trong tôi từng hạt lệ
nhận từ em, thuở trái đất sơ khai
(tựa đâu đó, trong tôi từng hạt máu
nhận từ cha và mẹ, thuở tôi-thai)
sông cổ tích trôi giữa trời bạch lạp
rừng nguyên sinh: muông thú hát như người
cây sinh nở những đứa con như núi
tháp phần em, một nửa đã thành tôi
tự thắt cổ: mặt trời tôi tháng một
để hồi sinh từ thơ ấu em (tôi)
lọn chân thiết chảy theo chiều tóc mẹ
tôi bước ra từ ân sủng đất, trời
tôi muốn nhắc: niềm vui là nấm mộ /
chỉ nỗi buồn mới thực của ta, riêng
nên, bé dại: vai tôi chờ tóc mạ;
phút quay lui của quá đỗi băng băng
(đường thẳng thớm, vậy mà, hầm, hố đấy
trái ngang tầm, chưa hẳn sẽ trong tay
thêm mưa, nắng, vốn hàm hồ bất trắc
và, tương lai chảnh lắm nhé, thơ ngây)
này bé dại, lại đây, ngồi xuống, ngắm:
những bông đời tôi hái giữa trăm năm
tôi không bán, chỉ mời em tự nhặt:
một bông tôi từ giỏ-cũ-tâm-hồn.
(Tháng 10.2003)

*
II.1. VÌ ÁNH SÁNG NÉM VÀO TÔI MẤT TÍCH

này bé dại, ở cùng tôi mãi nhé
vì niềm vui tuyệt tự, chẳng sinh sôi
vì ánh sáng ném vào tôi mất tích
nhưng, nhờ em, tôi trở lại con người

Lời tự tình phía trên, muốn hiểu là cuộc chuyện trò của Du Tử Lê cùng một cô gái nhỏ, cũng được, mà muốn hiểu là ông đang tự trò chuyện với mình, trò chuyện với tâm hồn mình thuở ấu thơ, cũng không thể gọi là sai.

“Này bé dại”, ba tiếng ấy vang lên, nghe mới thân thiện, dịu dàng và che chở làm sao.

“Bé dại” ở đây, có thể là một người tình trẻ tuổi (tại sao không?). “Bé dại” ở đây, có thể là một tâm hồn ngây thơ chưa nhuốm bụi trần mà nhà thơ may mắn gặp được trên con đường quan san vạn lý. “Bé dại" ở đây, cũng có thể là phần con người nguyên thủy, phần thiên lương trong sáng, là đứa trẻ bên trong mà mỗi chúng ta đều từng được thiết lập trước khi bị cuộc đời nhào nặn và làm cho chai sạn như bây giờ.

“Bé dại”, nghe mong manh, nghe đối lập hoàn toàn với cái thế giới già cỗi, đầy toan tính và lọc lừa như đang vẫn diễn ra.

“Này bé dại, ở cùng tôi mãi nhé” là lời khẩn cầu, là lời cầu xin tha thiết. Tại sao một người đàn ông trưởng thành, một nhà thơ tên tuổi, đã đi qua bao thăng trầm của cuộc đời, lại phải cầu xin "bé dại" ở lại với mình?

Bạn đọc không cần phải thắc mắc lâu, vì phần lý giải đã nằm ở ngay câu liền kề: vì niềm vui tuyệt tự, chẳng sinh sôi / vì ánh sáng ném vào tôi mất tích.

Tuyệt tự nghĩa là bị đứt đoạn, không có con cháu nối dõi, không có người thừa kế. Đem tuyệt tự ra để kết hợp với niềm vui, là một sáng tạo rất tài của Du Tử Lê.

Tuyệt tự niềm vui, không còn nữa niềm vui, từ đây. Tuyệt tự niềm vui, hết rồi, chết rồi, chết hết mầm vui rồi, không còn sinh sôi nữa, từ đây. Tuyệt tự niềm vui, không còn hạnh phúc nữa, từ đây.

Đến ánh sáng là thứ vĩnh hằng kia, vậy mà khi ném vào tôi, chiếu vào tôi, rọi ngang qua tôi, ánh sáng cũng tức khắc bị mất tích.

Tức là, mọi nguồn năng lượng thiện lành, mọi hy vọng của sự cứu rỗi khi chạm vào tôi, đều bị nuốt chửng, biến mất không dấu vết.

Tại vì sao ư? Vì tác giả là người đang chết lần chết mòn trong cô đơn, trong tuyệt vọng, trong mất mát niềm tin, trong những nỗi đau khốn cùng và nghiệt ngã. Không gì có thể cứu chuộc được ông nữa, niềm vui thì tuyệt tự rồi, mà ánh sáng thì cũng mất tích đã từ lâu lắm.

“Nhưng, nhờ em, tôi trở lại con người”. Nhưng chỉ có em, tôi mới lại có một bầu trời mới. Nhưng chỉ có em, tôi lại có một lối thoát mới, lối thoát duy nhất cho kẻ đang hấp hối là tôi.

Em quyền năng. Chỉ em mới có quyền năng đó.

Khi ánh sáng của lý trí, của tôn giáo, của những giá trị cao siêu khác đều bị mất tích khi ném vào tôi, thì sự hiện diện của em, một thực thể bé dại, ngây thơ, không toan tính, lại làm được điều kỳ diệu vô cùng, đó là giúp tôi khôi phục lại bản thể con người.

“Tôi trở lại con người”, nghĩa là, trước khi gặp được em, tôi mất hết, tôi không còn gì, tôi vật vờ. Nghĩa là, sau khi gặp được em, tôi biết rung động, tôi biết yêu thương và tôi biết hy vọng.

"Tôi trở lại con người", nghĩa là, tôi đã tìm về được với tánh bổn thiện của buổi nhân chi sơ.
*

II.2. NHƯ NỤ CƯỜI MEN ẤM MẮT NÂU, SÂU

này bé dại, ở cùng tôi mãi nhé
như nụ cười men ấm mắt nâu, sâu
như con gió thổi hồn tôi mất, hút
nhưng, nhờ em, tôi lại thấy tôi về

“Này bé dại, ở cùng tôi mãi nhé” nghe mới trìu mến, nghe mới nâng niu làm sao.

“Ở cùng tôi mãi nhé" không phải là câu mệnh lệnh, càng không phải là lời van xin yếu đuối, mà đó là lời thì thầm, lời mời gọi dịu dàng, đầy khát khao của tác giả.

Từ "mãi" khẳng định sự vĩnh cửu. Từ "nhé" đặt ở cuối câu làm dịu đi cái mong muốn chiếm lĩnh, biến câu thơ thành một lời định ước thầm trao.

Tác giả đã tự mở lòng mình ra một cách thành thực, hạ cái tôi kiêu bạc của người làm thơ lừng lẫy xuống, chỉ để mong hòa nhập vào được thế giới nhỏ bé, thế giới bình yên của người mình yêu.

Vì sao tác giả lại khao khát sự ở lại của bé dại đến thế? Đó là vì: như nụ cười men ấm mắt nâu, sâu / như con gió thổi hồn tôi mất, hút.

Đọc thơ ông đến đây, tôi cứ ngỡ như mình đang hát lên một khúc ca, một khúc ca dặt dìu, khúc ca của những làn sóng cảm xúc, của những làn sóng rung động, xô vào tôi, bất tận.

Nụ cười của em là men rượu nồng ấm, và đôi mắt nâu của em hun hút ái tình, khiến tác giả không thể không lịm đắm tâm hồn mình vào bể sâu bí ẩn ấy.

Không chỉ có thế, nụ cười em, mắt nâu em, hệt “như con gió thổi hồn tôi mất, hút”. Con gió với sức mạnh bão giông của mình đã khiến cho trái tim tôi hụt nhịp, cuốn trôi lý trí của tôi, thổi bay tâm hồn tôi vào khoảng không vô định.

Trái tim tôi “mất, hút”, tâm hồn tôi cũng “mất, hút” theo, “nhưng, nhờ em, tôi lại thấy tôi về”.

Nghĩa là, nhờ nụ cười, nhờ ánh mắt của em, mà những bụi bặm, những cay đắng, những rã rời của tôi được thổi bay đi, và tôi mới lại được thấy tôi về.

Tôi được trở về với chính mình, được trở về với sự bình yên, được trở về với bản ngã nguyên sơ, không chút dấu vết của phiền muộn, ngay chính lúc nàng hiện diện, bên tôi.

Người tình của Du Tử Lê, có phải chăng là niềm tin tôn giáo, là ngôi thánh đường, và tình yêu là con đường duy nhất để cứu rỗi linh hồn đầy mệt mỏi và tội nghiệp của thi sĩ.
*

II.3. NHẬN TỪ EM, THUỞ TRÁI ĐẤT SƠ KHAI

như thế đó, trong tôi từng hạt lệ
nhận từ em, thuở trái đất sơ khai
(tựa đâu đó, trong tôi từng hạt máu
nhận từ cha và mẹ, thuở tôi-thai)

Từ thế giới của tình yêu đôi lứa, Du Tử Lê đã ngược dòng về cội nguồn tâm linh của con người.

Hai câu đầu, là thế giới của tôi, em, và hạt lệ: “như thế đó, trong tôi từng hạt lệ / nhận từ em, thuở trái đất sơ khai”.

Hai câu sau, là thế giới của cha và mẹ, của huyết thống, của hạt máu và của sự tượng hình, được nằm trong ngoặc đơn, mang ý giải thích, mang ý hướng nội, hướng vào trong, hướng vào phần sâu thẳm, phần nguyên sơ của tiềm thức (tựa đâu đó, trong tôi từng hạt máu / nhận từ cha và mẹ, thuở tôi-thai).

Hai câu sau tựa như lời thì thầm, khẽ khàng nhắc nhở. Nhắc nhở rằng, tình yêu đôi lứa, vốn được khai sinh, được nâng đỡ bằng chính tình mẫu tử, phụ tử, huyết thống đang chảy trong mạch máu của mỗi con người chúng ta.

“Như thế đó”, vừa vang lên như một lời giải thích vừa là sự thừa nhận, đó là định mệnh của kiếp người, không thể đổi khác, không sao đổi khác được.

“Hạt lệ”, tức nước mắt, tức nỗi buồn. Nỗi buồn này có hình hài, có thể đong được, đếm được, cân được, và nó hiện đè nặng lên tâm tư.

Nhưng tuyệt nhất trong khổ thơ này, chính là ý “nhận từ em”. Tôi nhận từ em, từng hạt lệ ấy, “thuở trái đất sơ khai”.

Thuở trái đất sơ khai, là lúc vạn vật còn hỗn mang, là khi sự sống mới chỉ là những mầm mống đầu tiên, và con người thì chưa xuất hiện. Vậy làm sao mà tôi lại có thể nhận lệ từ em?

Đây phải chăng là thuyết duyên khởi, thuyết định mệnh của nhà Phật chăng?

Có phải nhà thơ muốn nói, tình yêu và nỗi đau mà em mang đến cho tôi không phải là sự ngẫu nhiên của kiếp này, mà tình yêu và nỗi buồn đó, đã được định sẵn từ tiền kiếp, từ lúc vũ trụ mới hình thành?

Có phải nhà thơ muốn nói, giữa tôi và em, vốn đã có một lời giao hẹn từ thời thượng cổ, từ thời khai thiên lập địa?

Nỗi buồn của tình yêu tôi và em, vì thế, ngang bằng tuổi của trái đất, và "từng hạt lệ" hôm nay chỉ là sự tiếp nối của một ước hẹn đã được lập từ thuở hồng hoang.

Sự đối lập giữa hạt lệ và hạt máu, đã giúp chúng ta hiểu ra được ý định của Du Tử Lê, đó là ông đặt ngang hàng giá trị của tình yêu đôi lứa với giá trị của sinh thành dưỡng dục, tức là giá trị của sự sống.

Nỗi đau nhận từ người yêu cũng thiết thân, cũng chảy rạo rực và hiện hữu trong từng tế bào của cơ thể tôi, giống như dòng máu tôi được nhận từ cha mẹ vậy.

Không ai có thể loại máu ra khỏi cơ thể mà sống được, nên tôi cũng không thể nhấc những hạt lệ của em ra khỏi linh hồn mình. Lệ và máu, đã hòa làm một, tạo thành một thân xác và tâm hồn trọn vẹn là tôi.

“Thuở tôi-thai” cũng là một trong những sự sáng tạo ngôn ngữ xuất sắc của Du Tử Lê trong bài thơ. Tôi-thai, là lúc con người được hình thành trong bào thai của người mẹ dưới sự kết hợp của cha và mẹ.

Nếu như thuở trái đất sơ khai là điểm bắt đầu của thế giới, thì thuở tôi-thai là điểm bắt đầu của con người.

Nhà thơ không oán trách em vì đã gieo vào mình từng hạt lệ, ông đón nhận nó với sự thiêng liêng như cách ông đón nhận dòng máu của đấng sinh thành.
*

II.4. THÁP PHẦN EM, MỘT NỬA ĐÃ THÀNH TÔI

sông cổ tích trôi giữa trời bạch lạp
rừng nguyên sinh: muông thú hát như người
cây sinh nở những đứa con như núi
tháp phần em, một nửa đã thành tôi

Thơ của Du Tử Lê, như thơ của Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng… , luôn hiện diện rất nhiều những không gian siêu thực “sông cổ tích trôi giữa trời bạch lạp”.

Sông cổ tích ở đây, có phải là con sông của ký ức, của huyền thoại, nơi của nguyên sơ, nơi của trong trẻo và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người chăng?

Nếu là như vậy, thì con sông ấy là con sông luôn dịu dàng chở trên mình nó những giấc mơ của tuổi thơ, những giá trị tinh thần chưa bị hoen ố bởi đau thương và dâu bể của cuộc đời.

"Bạch lạp" là nến trắng. “Trời bạch lạp", bầu trời có màu sắc nhợt nhạt, mờ ảo, đặc quánh và ngưng đọng như sáp nến chảy. Đó không phải là bầu trời xanh của hy vọng, cũng không phải là bầu trời đêm đầy sao lãng mạn. Đó là một bầu trời của cõi thiêng, của lúc vạn vật chuẩn bị chìm vào hư vô.

Sự kết hợp giữa "sông cổ tích" và "trời bạch lạp" tạo nên một nghịch lý thị giác và cảm giác. Một dòng sông vốn mang đặc tính chuyển động liên tục, lại đặt trong một bầu trời đặc quánh, bất động như sáp. Ngột ngạt nhưng lại vô cùng mỹ lệ. Vì siêu thực, nên nó không tuân theo các quy luật vật lý thông thường, mà nó vận hành theo logic của cảm nhận, của tiềm thức.

“Rừng nguyên sinh”, biểu tượng của khởi thủy, nơi sự sống bắt đầu, chưa có sự can thiệp của văn minh nhân tạo. Rừng nguyên sinh vì thế, chứa đựng sức sống mãnh liệt, hoang dại và bí ẩn.

Ở chốn nguyên thủy ấy, muông thú không gầm rú, mà chúng "hát như người", hát lên khúc ca bi thiết của định mệnh.

“Cây sinh nở những đứa con như núi”. Những đứa con của cây không phải là lá, là hoa, mà là núi. Câu thơ gợi ta nhớ đến các câu chuyện sử thi, thần thoại, nhớ đến các vị thần tạo ra vũ trụ.

“Tháp phần em”. Những kiến trúc cổ kính, linh thiêng, cô đơn mà kiêu hãnh, tôn nghiêm, xin được dành em, em “bé dại”.

“Một nửa đã thành tôi”. Đây chính là định mệnh dành riêng cho tôi. Tôi giờ đây, được cấu tạo bằng một nửa của em. Một nửa đã thành tôi vừa là niềm hạnh phúc của đôi lứa, vừa là bi kịch của cái tôi căn tính. Nó bi kịch như vô hạn của đất trời, được đặt bên hữu hạn của kiếp người thống khổ vậy.
*

II.5. TỰ THẮT CỔ: MẶT TRỜI TÔI THÁNG MỘT

tự thắt cổ: mặt trời tôi tháng một
để hồi sinh từ thơ ấu em (tôi)
lọn chân thiết chảy theo chiều tóc mẹ
tôi bước ra từ ân sủng đất, trời

Cụm từ "tự thắt cổ" được đặt ngay đầu khổ thơ, ngăn cách với vế sau bằng dấu hai chấm, như khẳng định đó là sự lựa chọn tốt nhất và duy nhất, không còn cách nào khác nữa. Trong văn chương, cái chết thường được diễn tả bằng những ẩn dụ hoa mỹ, nhưng ở đây, Du Tử Lê lại dùng từ tả chân, không rào trước đón sau, tự thắt cổ.

Tự thắt cổ ở đây, có phải chăng là nỗ lực cuối cùng, nhằm bức tử cái tôi cũ kỹ, đớn đau, đang bị bủa vây bởi định mệnh?

“Mặt trời”, biểu tượng của ánh sáng, nguồn sống, lý tưởng. “Tháng một”, tháng khởi đầu của một năm mới, mùa xuân bắt đầu gõ cửa. Vậy mà, "mặt trời tháng một" ở đây lại là một mặt trời non nớt, lạnh lẽo, báo hiệu sự kết thúc của một chu kỳ cũ để bước sang một thời kỳ mới.

Khi tác giả quyết định tự thắt cổ mặt trời của chính mình, có phải chăng, ông đang muốn thực hiện một nghi lễ hiến tế? Có phải chăng, ông đang muốn khai tử cái tôi hào nhoáng nhưng cô độc, cái tôi đang bị thiêu đốt bởi những khát vọng dở dang của thực tại?

Nếu câu thơ thứ nhất là sự khép lại, là bóng tối của cái chết, thì câu thơ thứ hai, lại ngay lập tức, thắp lên một thứ ánh sáng diệu kỳ của sự cứu rỗi “để hồi sinh từ thơ ấu em (tôi)”.

Từ "để" ở đầu câu đóng vai trò chỉ mục đích. Điều này cho thấy, hành động tự hủy ở câu thứ nhất, không phải là sự buông xuôi, tuyệt vọng của một kẻ tìm đến hư vô, mà là chuẩn bị tâm thế cho một cuộc tái sinh. Để có được sự sống mới, người ta buộc phải đi qua cái chết.

Nơi trú ngụ cho sự tái sinh ấy, chính là “thơ ấu em (tôi)”. Em ở đây, có thể là người tình, có thể là tha nhân, nhưng mang trong mình sự thuần khiết, trong trẻo của thuở khởi thủy, ban sơ.

Em (tôi), nghĩa là, em và bao gồm cả tôi nữa. Em và tôi, giờ đây, chỉ là một. Thơ ấu của em cũng chính là miền thánh thiện của tôi.

Du Tử Lê đã tìm thấy chiếc phao cứu sinh cho linh hồn mình không phải ở những điều vĩ đại, mà ở miền "thơ ấu", nơi con người chưa bị vẩn đục bởi những khôn ranh, khôn lỏi đầy chua chát và cay đắng của cõi nhân sinh.

Khi đặt "tôi" trong lòng "em", nhà thơ như một đứa trẻ được bao bọc trong chiếc nôi của tình yêu nguyên thủy. Tình yêu ở đây đã vượt thoát khỏi phạm trù nam nữ thông thường để trở thành tôn giáo, trở thành sự cứu rỗi, trở thành dòng nước mát lành rửa trôi mọi tội lỗi và đau đớn mà "mặt trời tháng một" từng phải gánh chịu.

Từ miền thơ ấu của tình yêu, linh hồn của Du Tử Lê tiếp tục trôi về bến bờ thiêng liêng, đó là tình mẫu tử, cội nguồn của sinh thành “lọn chân thiết chảy theo chiều tóc mẹ”.

Đây là một trong những câu thơ đẹp và giàu tính nhạc nhất của Du Tử Lê trong bài thơ. Chân thiết, nghĩa là chân thành, tha thiết, cốt lõi, gắn kết chặt chẽ.

Ngữ "lọn chân thiết" là khái niệm trừu tượng thuộc về tâm trạng, cảm xúc, nhưng khi qua động từ "chảy", nó bỗng nhiên có hình khối, có hình hài, có chuyển động.

Dòng chảy ấy không trôi trong vô định mà “chảy theo chiều tóc mẹ”. “Tóc mẹ", biểu tượng vĩnh hằng của bao dung, chở che, chịu đựng. Mái tóc mẹ xõa dài theo thời gian, gánh chịu bao sương gió cuộc đời, giờ đây trở thành một dòng sông, để đứa con, kẻ vừa bước ra từ cõi chết và sau đó tái sinh, được nương náu.

Từ “chiều” ở đây tuyệt hay. Nó vừa là hình ảnh của suối tóc đổ xuống, vừa là buổi chiều của đời mẹ, vừa là yêu chiều, dỗ dành, vỗ về, an ủi của mẹ dành cho con. Ngược lại, con cũng nương theo chiều tóc mẹ như dòng nước tìm về với biển cả, như một sự quy thuận tự nhiên trước tình mẫu tử thiêng liêng.

Chính tình yêu của mẹ, sự hy sinh của mẹ đã tiếp thêm dưỡng chất và làm đầy đặn thêm phần hồn vừa mới được hồi sinh của nhà thơ.

Sau khi đi qua hành trình tự hủy, tái sinh trong tình yêu, và tắm mát trong tình mẹ, cái tôi của thi sĩ đã hoàn toàn lột xác để hóa thành dáng vóc tươi mới, trẻ trung, “tôi bước ra từ ân sủng đất, trời”.

“Bước ra”, hiên ngang, chủ động, đầy tự tại. Trái ngược hoàn toàn với kẻ tuyệt vọng là tôi, phải "tự thắt cổ", cũng như, không còn là một linh hồn co cụm tìm kiếm sự chở che. Giờ đây, tôi đã xuất hiện với tư cách một con người toàn vẹn, một sinh linh mới tinh khôi.

Ân sủng, được ban ơn. Ân sủng, lòng thương xót vô điều kiện của đấng tối cao dành cho con người. Đó có phải chăng, còn là sự bao dung của vũ trụ, của đất và trời, dang tay đón nhận đứa con lầm lạc trở về?

Ý niệm về cái chết và sự tái sinh, cũng như việc trộn lẫn các dòng cảm giác, mang đậm màu sắc của chủ nghĩa siêu thực phương Tây. Tuy nhiên, hình ảnh "tóc mẹ", "ân sủng đất trời" lại đầy dấu ấn của hồn cốt phương Đông, nơi con người luôn tìm kiếm sự hài hòa với tự nhiên và coi trọng đạo hiếu, tình thâm.
*

II.6. TÔI MUỐN NHẮC: NIỀM VUI LÀ NẤM MỘ

tôi muốn nhắc: niềm vui là nấm mộ /
chỉ nỗi buồn mới thực của ta, riêng
nên, bé dại: vai tôi chờ tóc mạ;
phút quay lui của quá đỗi băng băng

Đây chính là hai câu thơ mà Du Tử Lê chọn làm nhan đề của bài thơ “tôi muốn nhắc: niềm vui là nấm mộ / chỉ nỗi buồn mới thực của ta, riêng”.

“Tôi muốn nhắc”, được dùng để mở đầu khổ thơ, thể hiện giọng thủ thỉ nhưng cũng vô cùng kiên quyết. Tôi muốn nhắc, không là lời mở đầu của tuyên ngôn hướng ra đám đông. Tôi muốn nhắc, là lời độc thoại nội tâm được phát biểu thành lời, một sự thức tỉnh sau những mê lầm của đời sống. Nhà thơ, trước hết, muốn “nhắc” chính mình, và sau đó, nhắc nhở bạn đọc về một sự thật.

Sự thật ấy là gì? Niềm vui là nấm mộ.

Du Tử Lê đã dùng phương pháp ẩn dụ cho câu thơ này. Thông thường, niềm vui được so sánh với ánh sáng, với sự sinh sôi, với hạnh phúc. Nhưng dưới sự thấu tỏ cặn kẽ đến tận cùng của Du Tử Lê, thì niềm vui lại chính là nấm mộ. Bởi vì sao ư?

Niềm vui trong cuộc đời thường ngắn ngủi, nó đến và đi như chớp mắt. Khi niềm vui đạt đến đỉnh điểm, chính là lúc nó bắt đầu lụi tàn. Niềm vui chôn chúng ta vào lãng quên. Niềm vui là nấm mộ vì nó chôn cất đi khả năng phản tư (tự nhìn lại mình, tự phân tích lại mình trong quá khứ) của con người, khiến người ta chìm đắm trong ảo tưởng về một sự viên mãn không có thật. Niềm vui chính là nghĩa trang của những khoảnh khắc đã mất.

Đối lập với “niềm vui nấm mộ” là “chỉ nỗi buồn mới thực của ta, riêng”.

Khi vạn vật quanh ta đều có thể bị tước đoạt, khi người tình có thể rời xa, khi danh vọng có thể mất đi trong một sớm một chiều, và khi niềm vui có thể nhạt phai, thì chỉ nỗi buồn, mới là thứ trung thành tuyệt đối với ta.

Nỗi buồn là thứ duy nhất thuộc sở hữu toàn vẹn của một cá nhân. Nỗi buồn không thể chia sẻ được, mà cũng chẳng thể vay mượn ai. Nỗi buồn định danh cái tôi. Chính trong nỗi buồn tận cùng, thì con người mới nhận biết rõ ràng nhất sự tồn tại của chính mình.

Nỗi buồn của Du Tử Lê không ủy mị sướt mướt, nỗi buồn của ông gắn liền với triết lý nhân sinh, buồn là bản chất của đời sống, là tấm gương phản chiếu chân thực bản thể người.

Vì thế, Du Tử Lê tiếp “nên, bé dại: vai tôi chờ tóc mạ”. Khi nhận ra niềm vui là nấm mộ, khi biết chỉ có nỗi buồn mới là thứ duy nhất thuộc về mình, con người ta lại càng có xu hướng tìm về với những gì nguyên sơ, thuần khiết nhất để trú ngụ. Và thế giới ấy được gọi tên là “bé dại”.
“Bé dại” ở đây có thể hiểu theo nhiều tầng nghĩa. Đó là trạng thái tâm lý muốn khước từ những toan tính, khước từ cả những nỗi đau của thế giới người lớn. Đó là sự đầu hàng tự nguyện trước tình yêu, trước người mình yêu, người đàn ông kiêu hãnh và từng trải, bỗng chốc muốn thu mình lại, trở nên bé nhỏ, ngây thơ để được yêu thương, được tha thứ.

Khác với những hình ảnh ước lệ thông thường như "tóc thề", "tóc mây", nhà thơ chọn hình ảnh “tóc mạ”.

Tóc mạ, tóc có màu non tơ, mềm mại, thơm mùi đồng nội, mùi của sự sống mới sinh sôi. Tóc mạ là vẻ đẹp thanh tân, trinh nguyên của người con gái.

Bờ vai của người đàn ông, vốn được coi là biểu tượng của sự vững chãi, nơi gánh vác giông bão cuộc đời, giờ đây lại nghiêng mình, kiên nhẫn và tĩnh lặng để “chờ” làn tóc mạ xõa xuống.

Vai anh và tóc mạ em là sự giao hòa giữa âm và dương, giữa chở che và nhu cầu được vỗ về. Câu thơ làm dịu đi không khí ngột ngạt của nấm mộ phía trên. Tình yêu, dù có thể mang lại nỗi buồn, nhưng lúc này, nó là liều thuốc duy nhất xoa dịu cho một linh hồn mệt mỏi, sau cơn tỉnh giấc của mình.

“Phút quay lui của quá đỗi băng băng” là một câu thơ có cấu trúc lạ, rất Du Tử Lê, người luôn tìm cách phá vỡ những cấu trúc ngữ pháp thông thường để tạo ra những hiệu ứng cảm xúc mới.

“Quá đỗi băng băng”, tả dòng chảy của thời gian và cuộc đời. “Băng băng”, áp lực khủng khiếp, tốc độ khủng khiếp. Thời gian lao đi như mũi tên, lạnh lùng cuốn phăng tuổi trẻ, tàn nhẫn cuốn phăng tình yêu và cả kiếp người vào cõi hư vô.

“Phút quay lui”, là nỗ lực tuyệt vọng nhưng kiêu hãnh của con người nhằm chống lại dòng chảy ấy. Khi cuộc đời lao đi quá nhanh, nhà thơ muốn “quay lui”, muốn ngoảnh lại, muốn tìm về với quá khứ, về với “bé dại”, với “bờ vai chờ tóc mạ” của ngày xưa.

Nhưng, con người không thể nào thay đổi được thời gian về mặt vật lý. Nên, sự “quay lui” ở đây, chỉ có thể diễn ra trong ký ức, trong tâm tưởng hoặc trong cõi thơ mà thôi.

Du Tử Lê, dù đã ý thức được sự bất lực của con người trước thời gian và định mệnh, nhưng vẫn không thôi khát vọng giữ được cái tôi của mình, cũng như níu giữ bên mình những điều, những người thương yêu nhất. Chính sự bất khả thi ấy đã làm nên tính bi kịch và vẻ đẹp bi tráng cho cả khổ thơ.
*

II.7. VÀ, TƯƠNG LAI CHẢNH LẮM NHÉ, THƠ NGÂY

(đường thẳng thớm, vậy mà, hầm, hố đấy
trái ngang tầm, chưa hẳn sẽ trong tay
thêm mưa, nắng, vốn hàm hồ bất trắc
và, tương lai chảnh lắm nhé, thơ ngây)

Với những tư duy đầy trải nghiệm, với cách ngắt nhịp phá cách và ngôn từ mang tính giễu nhại nhưng chứa đựng một triết lý nhân sinh sâu sắc, Du Tử Lê đã khái quát trọn vẹn bản chất của cuộc đời. Đó là hành trình đầy rẫy những nghịch lý, ngẫu nhiên và bất khả tri.

Bốn câu thơ là lời tự sự, là cái nhìn ngoái lại đầy chiêm nghiệm của một cái tôi đã đi qua quá nửa đời người, tự nói với chính mình hoặc đang thầm thì với một bản thể "thơ ngây" khác của quá khứ.

Trong khổ thơ này, ông đã tách mình ra khỏi dòng chảy của số phận để quan sát nó, mổ xẻ nó bằng một thái độ vừa cay đắng lại vừa bình thản.

“Đường thẳng thớm, vậy mà, hầm, hố đấy”, phải chăng là những gập ghềnh, trắc trở, biến cố trong cuộc đời mà con người phải đối diện. Cuộc đời không như dòng sông hiền hòa, mà cuộc đời là dòng sông bị bẻ gãy, bị chặn đứng, bị thay đổi đột ngột bởi định mệnh.

“Đường thẳng thớm”, là những kế hoạch hoàn hảo, những lộ trình được vạch sẵn, những lý tưởng, những niềm tin mà con người ngỡ rằng mình có thể dễ dàng kiểm soát. Khi còn trẻ, hoặc khi đứng ở vạch xuất phát, chúng ta thường nhìn tương lai bằng một đường thẳng tắp, không chướng ngại vật.

Nhưng ngay lập tức, nhà thơ cho “vậy mà” xuất hiện. “Vậy mà” khép lại ảo tưởng và mở ra thực tại. Hai chữ “hầm, hố” được tách nhau ra bằng một dấu phẩy, làm tăng sức nặng của sự hiểm nguy. "Hầm" và "hố" không chỉ là những chướng ngại vật vật lý trên đường đi, mà chúng còn là cạm bẫy, tai ương, là vực thẳm không lường trước được.

Cuộc đời luôn đánh lừa con người bằng những ảo tưởng bình yên trước khi đẩy họ xuống hố sâu của nghịch cảnh.

Nếu câu thơ thứ nhất nói về hành trình, thì câu thơ thứ hai nói về mục đích và thành quả. “Trái ngang tầm” là mục tiêu, hạnh phúc, thành công, tưởng chừng như đã ở ngay trước mắt, nằm trong tầm với của con người, là quả ngọt trĩu xuống ngay tầm mắt, chỉ cần giơ tay ra là có thể hái được ngay.

Thế nhưng, liền đó, Du Tử Lê khẳng định, “chưa hẳn sẽ trong tay”. Khoảng cách từ "ngang tầm" đến "trong tay", tưởng chỉ là gang tấc nhưng thực chất lại xa xôi vạn dặm.

Câu thơ chạm đến một sự thật đau lòng của kiếp nhân sinh: con người có thể nỗ lực, có thể đứng rất gần đích đến, nhưng chỉ cần một cơn gió vô hình của số phận thôi, là có thể làm lung lay cành quả, hoặc chỉ một cái sẩy chân thôi, là có thể khiến ta vĩnh viễn mất đi thứ tưởng chừng sẽ thuộc về mình. Đây chính là tính giới hạn, khiến con người luôn phải vào thế bất lực, bó tay chịu phép trước định mệnh.

Nhưng những cạm bẫy "hầm, hố" và những thất vọng "chưa hẳn trong tay", xem ra, vẫn chưa là gì cả. Cuộc đời còn sẵn sàng bồi thêm vào những yếu tố ngoại cảnh “mưa” và “nắng”. Đó là những biến động của thời cuộc, những thị phi, những may rủi của đời người.

Hàm hồ là từ dùng để chỉ thái độ, phán đoán hoặc nhận xét thiếu căn cứ, không cân nhắc, bừa bãi, ngang ngược.

Khi gán tính từ này cho mưa, nắng, Du Tử Lê đã nhân hóa cuộc đời thành một thực thể đỏng đảnh, vô lý, không tuân theo bất kỳ một quy luật sống hay quy tắc đạo đức nào.

“Bất trắc” nghĩa là không thể đoán định. Cuộc sống vốn không vận hành đơn giản theo kiểu gieo gió gặt bão hay ở hiền gặp lành. Đôi khi, tai họa ập đến chỉ vì sự hàm hồ của số phận.

Câu thơ cuối cùng đẩy giọng điệu thơ sang một sắc thái hoàn toàn khác, tinh nghịch, giễu nhại mà cay đắng xót xa.

“Chảnh” là khẩu ngữ được đặt cạnh khái niệm triết học trừu tượng là “tương lai” nhằm nhân cách hóa tương lai. Tương lai, đó là kẻ kiêu kỳ, ngạo mạn, thích thách thức và trêu ngươi con người. Tương lai không bao giờ chịu phục tùng hay chiều chuộng những kế hoạch của chúng ta.

Nó ngoảnh mặt, nó làm giá và giấu kín những quân bài của mình.

Khép lại khổ thơ là “thơ ngây”. Đây là đích để ba câu thơ phía trên hướng tới. Khổ thơ là lời cảnh tỉnh dành cho những ai còn thơ ngây trước cuộc đời.

Thơ ngây ở đây, có thể tác giả muốn ám chỉ những người trẻ tuổi chưa có kinh nghiệm, thường nhìn đời qua lăng kính màu hồng, nhưng rộng hơn, đó chính là phần con người bản năng bên trong mỗi chúng ta. Chúng ta luôn hy vọng, luôn tin tưởng một cách ngây thơ vào sự công bằng và suôn sẻ của cuộc đời.

Bản chất của đời sống là phi lý và bất định. Và con người chúng ta, luôn bị ném vào một thế giới mà ở đó "đường thẳng" có thể biến thành "hầm hố" trong chớp mắt.

Nhìn nhận ra những "hàm hồ bất trắc" và thói "chảnh" của tương lai, không phải để ta từ bỏ, mà là để ta giải thoát bản thân khỏi những ảo tưởng.

Khi hiểu rằng cuộc đời vốn dĩ gập ghềnh, ta sẽ không còn quá bàng hoàng trước những cú vấp ngã. Khi biết quả ngọt ngang tầm "chưa hẳn sẽ trong tay", ta sẽ trân trọng hơn những gì đang có cũng như bớt đi sự oán hận lúc gặp thất bại.

Bằng sự tài hoa hiếm có của mình, Du Tử Lê đã hoàn thành bức tranh tuyệt tác vẽ về sự bất định của số phận.

Bài thơ khép lại bằng hai chữ thơ ngây, vừa như một tiếng thở dài vừa như cái vỗ vai đầy thấu hiểu. Bài thơ nhắc nhở mọi người rằng, hãy cứ yêu đời, cứ bước đi, nhưng hãy luôn mang theo một tâm thế tỉnh táo để đón nhận mọi mưa nắng hàm hồ của cuộc đời với một phong thái bình thản, nhẹ nhàng nhất có thể của ta.
*

II.8. MỘT BÔNG TÔI TỪ GIỎ-CŨ-TÂM-HỒN

này bé dại, lại đây, ngồi xuống, ngắm:
những bông đời tôi hái giữa trăm năm
tôi không bán, chỉ mời em tự nhặt:
một bông tôi từ giỏ-cũ-tâm-hồn.

Khổ thơ thứ tám, đã mở ra một không gian đối thoại giữa cái tôi cô độc và thế giới, giữa quá khứ muôn vàn trải nghiệm và hiện tại tĩnh lặng.
Ngay từ câu thơ mở đầu, nhà thơ đã thiết lập một trường giao tiếp vô cùng đặc biệt “này bé dại, lại đây, ngồi xuống, ngắm”.

Ba dấu phẩy xuất hiện trong một dòng thơ đã tạo nên một tiết tấu chậm rãi, ung dung và chứa đựng một mệnh lệnh. Mệnh lệnh này mang tính cầu khiến nên đầy trìu mến.

Đối diện với một "giỏ-cũ-tâm-hồn" đầy vết xước thời gian, "bé dại" hiện lên như một hiện thân tinh khôi. Nhưng cũng có thể, "bé dại" là sự hóa thân của chính tác giả khi nhìn lại cuộc đời, hoặc là hình ảnh của mỗi con người chúng ta khi đứng trước sự bao la, huyền diệu của định mệnh.

Trước vũ trụ và thời gian, tất cả chúng ta, há chẳng phải đều là những đứa trẻ "bé dại" hay sao?

“Lại đây, ngồi xuống, ngắm”, ba hành động được sắp xếp theo một trình tự giảm dần về cơ học nhưng tăng dần về tâm tưởng. Từ một sự chuyển động không gian, lại đây, chuyển sang tư thế ổn định, rũ bỏ mọi vội vã, ngồi xuống, để cuối cùng đạt đến trạng thái tĩnh tại của nhận thức, ngắm.

Du Tử Lê chỉ cần thế, chỉ cần bạn “bé dại” ấy, cùng với mình, đưa ánh nhìn vào vạn vật để thưởng lãm. Du Tử Lê chỉ cần thế, chỉ cần một sự đồng điệu trong tĩnh lặng tận cùng.

Qua câu thơ thứ hai, không gian và thời gian được mở ra “những bông đời tôi hái giữa trăm năm”.

“Những bông đời”, một sáng tạo ngôn ngữ trong muôn vàn những sáng tạo ngôn ngữ khác của Du Tử Lê. Cuộc đời không được tính bằng số năm, số tháng, bằng danh vọng hay tiền tài, mà được định nghĩa bằng "những bông".

Đó là những bông hoa của trải nghiệm: có đóa hoa rực rỡ của tình yêu, có đóa hoa héo úa của sự chia ly, có đóa hoa xám ngắt của nỗi đau thân phận và cả những đóa hoa ngát hương của niềm hạnh phúc muộn màng.

Hành động “hái” ở đây mang tính chủ động. Nhà thơ không thụ động đón nhận số phận. Giữa dòng đời trôi nổi, giữa "trăm năm trong cõi người ta" (Nguyễn Du) dâu bể của kiếp người, người nghệ sĩ đã tự tay nhặt nhạnh, chắt chiu từng khoảnh khắc cảm xúc để biến nó thành nghệ thuật, thành những đóa hoa tâm hồn.

Từ "hái", thoạt nghe thật nhẹ nhàng, nhưng đằng sau nó là cả một hành trình thực nghiệm từng phải trả bằng học phí máu, học phí nước mắt của một kẻ tha hương, của một người thơ đi qua những biến động thăng trầm, không chỉ của lịch sử mà còn là số phận cá nhân.

“Tôi không bán, chỉ mời em tự nhặt”. Trong đời sống xã hội đầy những nhũng nhiễu, nhăng nhố hiện nay, nơi mà mọi giá trị vật chất, tinh thần, cảm xúc, đều bị đem ra cân đo đong đếm, mua bán, đổi chác, thì lời tuyên ngôn “tôi không bán”, vang lên như một sự đối lập bản lãnh và đầy kiêu hãnh. Những trải nghiệm, những "bông đời" kia là vô giá. Nó không thể được trao đổi bằng tiền bạc hay những thứ mang giá trị hư ảo, phù phiếm.

Thay vào đó, nhà thơ chọn cách ứng xử rất nguyên sơ và chân thành “chỉ mời em tự nhặt”. Ông không mang "cho" hay "tặng" một cách kẻ cả. Ông bày biện ra đó, và tùy thuộc vào chữ duyên.

Nếu đồng điệu, khắc sẽ nhìn thấy và "nhặt" được đóa hoa tương ứng với tâm hồn mình.

Khổ thơ cuối cùng của bài thơ được kết thúc bằng câu “một bông tôi từ giỏ-cũ-tâm-hồn”.

Tuyệt tác. Cực phẩm.

Cách dùng từ của Du Tử Lê, đôi khi khiến tôi tự hỏi, liệu, nhiều chục năm sau, có ai viết được như thế?

Du Tử Lê luôn biết cách làm cho người yêu thơ không thất vọng về mình. Ở đây, ông không viết một bông hoa của tôi, mà là một bông tôi. Trao đi một bông tôi, nghĩa là đang sẻ chia chính linh hồn mình với tha nhân, cõi thế.

Tại sao lại là "giỏ cũ"?

Giỏ là vật chứa đựng, nhưng ở đây không chứa vật chất mà chứa tâm hồn. Giỏ cũ mang sức nặng của thời gian. Đó là một tâm hồn đã đi qua quá nhiều giông bão, đã chồng lên quá nhiều lớp bụi trần của năm tháng, của những hoài niệm và của cả những vết thương đã thành sẹo.

Nhưng kỳ diệu thay, chính từ cái "giỏ cũ" tưởng chừng như đã mệt nhoài và đang úa tàn ấy, vẫn nở ra "một bông tôi" tinh khôi, sẵn sàng dâng hiến cho cuộc đời.
*

III. NHƯNG, NHỜ EM, TÔI TRỞ LẠI CON NGƯỜI

Một đời tận tụy cùng thơ, Du Tử Lê đã tự chọn cho mình được hướng đi riêng. Thơ ông là bản giao hưởng về kiếp người đơn côi, mang trên mình vô cùng những vết thương của cuộc đời.

Giữa cõi thơ đầy chia lìa và đổ vỡ nhức nhối ấy, Du Tử Lê luôn có những khoảnh khắc lắng dịu lòng mình. Đó là lúc ông buông xuống những vỏ bọc kiêu hãnh, âm thầm chịu đựng đến tận cùng những nỗi đau đời, để mang tâm hồn rệu rã ra phơi cùng nguyên sơ, để mang tâm hồn mục ruỗng ra hong cùng nắng gió, cùng mây trời xanh ngăn ngắt của buổi đầu tiên được làm người.

Thơ Du Tử Lê, dù ra đời trong hoàn cảnh nào và mang nội dung gì, cũng đều có khả năng chạm đến trái tim của nhiều thế hệ người đọc khác nhau.

Để "trở lại con người", đôi khi chúng ta không cần đến những triết lý cao siêu hay những thành tựu vĩ đại. Điều chúng ta cần lại là những "bé dại", non nớt, tinh khôi, hồn nhiên của tâm hồn, là khả năng nhận chân vẻ đẹp thuần khiết và đón nhận tình thương yêu bằng một trái tim không phòng bị và cả không toan tính.
*

IV. NHƯNG, NHỜ EM, TÔI LẠI THẤY TÔI VỀ

Ngôn ngữ thơ của Du Tử Lê vừa kiêu sa, đài các, lại vừa mộc mạc, chân thành. Lời thơ của ông vì thế, vừa tươi mới, trẻ trung, làm đắm say lòng người, lại vừa khiến bạn đọc phải khắc khoải, day dứt khôn nguôi.

Cuộc đời là chuỗi của những chuyến đi dài. Trên hành trình dằng dặc ấy, chúng ta tự đánh mất mình vì nỗi lo cơm áo gạo tiền, vì ham muốn danh vọng và vì quá nhiều những tai nạn cuộc đời, làm chúng ta trở nên chai sạn, mất đi khả năng rung động.

Chính lúc ấy, tình yêu chân thành, dù muộn màng, bỗng xuất hiện, trở thành một phép màu như trong truyện cổ tích.

Người tình "bé dại" không cần phải làm điều gì lớn lao, quá sức, “bé dại” chỉ cần nở một nụ cười, “bé dại” chỉ cần nhìn ta bằng đôi mắt sâu, là cũng đủ rồi. Đủ để đánh thức phần con người của ta đang bị chôn vùi bởi cuộc đời tai ác.

Yêu một người bằng một tình yêu chân thành, không vụ lợi, thì sẽ không bao giờ đánh mất chính mình. Ngược lại, nhờ “bé dại” của họ, nhờ những không toan tính, không cay cú hơn thua, được mất của họ, mà có khi, ta lại tìm được chính mình, sau những lần thất lạc giữa cuộc đời đầy toan tính.
*

V. NHẬN TỪ CHA VÀ MẸ, THUỞ TÔI-THAI

Thơ Du Tử Lê, luôn được ông viết bằng chữ thường và không viết hoa chữ cái đầu câu. Có lẽ, đây là cách để ông chống lại những quy tắc, những giáo điều, những câu nệ, vốn đang đầy rẫy trong mọi hình thức tồn tại của chữ nghĩa, cho đến ngày hôm nay. Và có lẽ, đây cũng là cách để ông xóa nhòa những ranh giới xơ cứng của ngữ pháp, giúp cho cảm xúc của bạn đọc thơ được diễn ra như ý ông đã gửi gắm vào bài thơ ngay từ khi vừa sáng tạo.

Với Du Tử Lê, con người sinh ra không chỉ bằng xương thịt, vật chất mà con người được cấu thành bằng cả những hạt lệ của tình yêu tiền định.

Tôi lớn lên, tồn tại nhờ dòng máu của cha mẹ nuôi dưỡng thể xác, nhưng tôi cũng được định hình tâm hồn bằng những hạt lệ nhận từ em. Nỗi đau, do đó, không phải là một tai nạn trong cuộc đời; nỗi đau là một thành tố tất yếu để cấu tạo nên con người.

Triết lý duyên sinh của nhà Phật, cái này có vì cái kia có, em và tôi, cha mẹ và vũ trụ đều nằm trong một lưới duyên chằng chịt từ thuở hồng hoang.
*

VI. TÔI BƯỚC RA TỪ ÂN SỦNG ĐẤT, TRỜI

Du Tử Lê không đi tìm sự bình yên trong những khuôn mẫu ước lệ, mà ông luôn đặt dấu hỏi và giải mã về cuộc sống, về tình yêu, về cái chết và sự sống, về hành trình của giác ngộ.

Du Tử Lê nói về cái chết nhằm để khẳng định khát vọng sống mãnh liệt của con người. Tự thắt cổ chỉ là một cái cớ, một nghi thức thanh lọc cần thiết để gột rửa những bụi bặm, đớn đau của kiếp người.

Với Du Tử Lê, thơ là thánh đường để con người tội nghiệp trú ẩn, nương náu. Và ở đó, bằng tình yêu của em, bằng dòng sữa tinh thần của mẹ, ông đã được hồi sinh, được tái tạo để kiêu hãnh bước đi giữa ân sủng đất, trời. Bài thơ không chỉ là lời tự sự của Du Tử Lê, mà nó còn là thông điệp gởi đến chúng ta, người đọc thơ của ông. Sau mỗi lần đổ vỡ, sau mỗi cuộc tự hủy vì đớn đau, con người luôn có khả năng đứng dậy, hồi sinh mạnh mẽ hơn từ những điều bình dị và thiêng liêng nhất của cuộc đời.
*

VII. CHỈ NỖI BUỒN MỚI THỰC CỦA TA, RIÊNG

Thơ Du Tử Lê không chỉ là tiếng lòng của người đi qua giông bão của thời cuộc, mà còn là bản kinh cầu nguyện cho tình yêu, cho sự cô đơn và cái chết. Giữa một gia tài thi ca đồ sộ với hàng ngàn bài thơ tình và triết lý, có những khoảnh khắc Du Tử Lê đúc kết tư tưởng của mình chỉ trong một vài dòng ngắn ngủi nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao với bạn đọc.

Du Tử Lê không chọn những từ hoa mỹ mà sáo rỗng cho thơ của mình. Ông luôn chọn cho thơ những từ giàu sức gợi và có khả năng chứa đựng nhiều tầng nghĩa.

Thơ Du Tử Lê vừa lãng mạn vừa có tính triết lý. Lãng mạn nhưng không ủy mị. Triết lý nhưng không sến sẩm.

Nhà thơ không trốn chạy nỗi buồn, không lừa dối mình bằng những niềm vui giả tạm. Ông chấp nhận nỗi buồn như một phần máu thịt, như cái riêng duy nhất, để từ đó, nâng niu hơn những khoảnh khắc “bé dại” trong tình yêu, dù biết rằng tất cả rồi sẽ bị dòng thời gian băng băng cuốn phăng đi hết.

Trải qua nửa thế kỷ, những dòng thơ này vẫn vẹn nguyên giá trị, bởi nó chạm đến những vấn đề cốt lõi nhất của nhân sinh, của thân phận và tình yêu. Du Tử Lê đã xây mộ cho niềm vui, nhưng đồng thời, ông cũng đã khiến cho độc giả của ông tin rằng, chỉ nỗi buồn và tình yêu mới là bất tử.
*

VIII. NÀY BÉ DẠI, Ở CÙNG TÔI MÃI NHÉ

Thơ Du Tử Lê là những lời tình ca sầu muộn, sang trọng nhưng lại vô cùng gần gũi, như một lời tự tình sâu thẳm của tâm hồn.

Trong cuộc đời, điều khó khăn nhất không phải là sống bao lâu, mà là trong cuộc sống ấy, ta có thể tìm được không những đồng điệu của tâm hồn. Tâm hồn con người, vốn là một thế giới bí ẩn, và ta không thể ép buộc ai đó phải hiểu mình. Việc tạo ra một khoảng không gian tĩnh lặng, rồi để cho mọi thứ được diễn ra tự nhiên, chính là thái độ sống bao dung, tự tại của Du Tử Lê, một người thơ đã thấu suốt hoàn toàn lẽ đạo ở đời.

Bài thơ kết thúc rồi nhưng dư âm vẫn còn âm ỉ mãi trong lòng người đọc. Bài thơ không là buổi lên lớp của một người từng trải, bài thơ càng không mang bóng dáng của một kẻ tình si đang cầu lụy. Trong bài thơ, ta chỉ nhận ra một trí giả, một thi sĩ đang ngồi trong tư thế tĩnh tại.

Ông chậm rãi mở chiếc giỏ tâm hồn cũ kỹ của mình ra, mỉm cười mời gọi những ai còn đủ tinh khôi, "bé dại", hãy dừng chân ghé ngồi cùng.
Giờ đây, Du Tử Lê đã hoàn tất xong hành trình của đời mình, nhưng "những bông đời" mà ông hái được, gởi gắm trong "giỏ-cũ-tâm-hồn" của văn chương, thì vẫn luôn tươi rói, đợi chờ những tâm hồn đồng điệu bước đến, ngồi xuống, và tự nhặt lấy cho mình.

Dường như có tiếng ông, nhẹ nhàng:

NÀY BÉ DẠI, Ở CÙNG TÔI MÃI NHÉ!

Sài Gòn 16.06.2026
Phạm Hiền Mây
18 Tháng Bảy 20265:32 SA(Xem: 9095)
Hầu như lần nào cặp đôi Du Tử Lê - Hạnh Tuyền về thăm VN tôi cũng đều gặp và cùng có mặt trong các cuộc tiếp xúc thân mật với những người yêu thơ Du Tử Lê ở Sài-gòn.
05 Tháng Bảy 20264:49 CH(Xem: 634)
Riêng tôi, mỗi lần đọc “Khúc Thụy Du”, tôi có cảm giác như đang nghe một tiếng hát vọng lên từ đáy sông khuya.
16 Tháng Năm 20268:10 SA(Xem: 3159)
“67, Khúc Thêm Cho Huyền Châu” là một kiệt tác của sự tinh tế.
25 Tháng Tư 202611:54 SA(Xem: 998)
Ngôn ngữ trong thơ Du Tử Lê là ngôn ngữ của tự tình, của chiêm nghiệm, của bao dung, nên khi đọc lên, nghe rất ngọt lưỡi, mật môi
11 Tháng Tư 20266:39 CH(Xem: 1084)
Thơ Du Tử Lê gieo vào tâm hồn người đọc một cảm giác lâng lâng đầy suy tư, ông được xem như nhà thơ Tình do cả đời đắm đuối hệ lụy vì thơ.
15 Tháng Mười 202512:00 SA(Xem: 19258)
thưởng thức thơ Du Tử Lê để từ đó chúng ta cùng vươn tới cảm thông với ánh sáng, với hương thơm muôn đời của Chân-Thiện-Mỹ
07 Tháng Mười 20255:54 CH(Xem: 7489)
Tên tuổi bác Lê, tôi biết đã lâu nhưng chả bao giờ nghĩ có thể, có dịp nào gặp, chứ đừng nói được trò chuyện, với một người mà mình hằng ngưỡng mộ.
31 Tháng Tám 20254:02 CH(Xem: 2023)
Đêm tưởng niệm thi sĩ Du Tử Lê được một nhóm bạn trẻ yêu thơ ông tự nguyện đứng ra tổ chức.
09 Tháng Tám 20254:24 CH(Xem: 2359)
Hạnh phúc cho những người có được để mà "cám ơn em, xin cảm ơn hạnh phúc này".
17 Tháng Sáu 20255:35 SA(Xem: 12262)
Hôm nay, một sáng nắng ấm, trời thu, Nam California, chúng tôi ngậm ngùi đưa tiễn một Nhà thơ.
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-360-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 10095)
Viết về những văn hữu của mình, dù ở giai đoạn của dòng văn học Việt Nam, Vũ Thư Hiên, luôn cho tôi cảm tưởng trong trang văn của ông luôn ẩn tàng những thiết bị chỉ đường GPS..."
(Xem: 11594)
ca khúc “Ngày Về” của Hoàng Giác, một tình khúc diễm lệ, tiêu biểu cho giai đoạn lãng mạn cao độ thời tiền chiến:
(Xem: 10268)
Tôi không biết anh (Phạm Duy) có thích những bài thơ ngoài đời nhưng về đạo của tôi không?
(Xem: 15198)
Mừng sinh nhật 93 tuổi của nhà văn Doãn Quốc Sỹ
(Xem: 16452)
Võ Phiến là một trong những nhà văn hàng đầu của 20 năm VHNT miền Nam, giai đoạn 1954-1975.
(Xem: 9095)
Hầu như lần nào cặp đôi Du Tử Lê - Hạnh Tuyền về thăm VN tôi cũng đều gặp và cùng có mặt trong các cuộc tiếp xúc thân mật với những người yêu thơ Du Tử Lê ở Sài-gòn.
(Xem: 634)
Riêng tôi, mỗi lần đọc “Khúc Thụy Du”, tôi có cảm giác như đang nghe một tiếng hát vọng lên từ đáy sông khuya.
(Xem: 769)
Điều làm nên sức sống bền bỉ nhất trong thơ của Du Tử Lê, đó chính là đề tài tình yêu.
(Xem: 3159)
“67, Khúc Thêm Cho Huyền Châu” là một kiệt tác của sự tinh tế.
(Xem: 998)
Ngôn ngữ trong thơ Du Tử Lê là ngôn ngữ của tự tình, của chiêm nghiệm, của bao dung, nên khi đọc lên, nghe rất ngọt lưỡi, mật môi
(Xem: 22513)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 11480)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 13476)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 11032)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 15682)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 35080)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 23317)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 29789)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 27078)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 26272)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 24144)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 20927)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 22656)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 19611)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 18445)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 29840)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 36516)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 37309)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,