Lưu Nguyễn Đạt

11 Tháng Bảy 201012:00 SA(Xem: 2881)
Lưu Nguyễn Đạt



Chấm Dứt Luân Hồi: Cơ Cấu Ẩn Dụ Và Hoán Dụ Trong Thơ Du Tử Lê 

"Riêng về mặt ngôn ngữ, cụm từ "chấm-dứt-luân hồi" tự nó là một nghịch lý hoặc một nghịch biện. Nó thoang thoáng nhắc tới công án khó hiểu của một vị thiền sư (Nhật ngữ gọi là 'Koan', thường được sử dụng trong Thiền môn Zen theo hệ phái Soto.)" 

 

 

Ferdinand de Saussure (2) và Roman Jakobson (3) đã nhận định rằng phép ẩn dụ (metaphor) và phép hoán dụ (metonymy) dẫn tới cơ cấu song hành thích ứng để kết tạo thể thức thi ca. Trên trục ẩn dụ, một tín hiệu được dùng để thay thế cho một tín hiệu khác, căn cứ vào sự lựa chọn (selection) tương tự giữa hai tín hiệu. Những từ ngữ như "lửa tình", "trồng cây si, ""bị bỏ bùa", "đam mê", "yêu như điên" v.v... đều là những tín hiệu tương tự, có thể được lựa chọn, thay thế nhau biểu thức xúc cảm mạnh mẽ của tình yêu cuồng nhiệt, say, mê. Còn trên trục hoán dụ, một tín hiệu được tiếp nối với tín hiệu khác để khuếch xung một ý nghĩa trong thể kết hợp (combination): Ý nghĩa "tình yêu" được biểu hiện toàn bộ bằng sự kết hợp của "thư tình", "lời của hoa", "hẹn hò", "ghen tuông", "nhớ nhung", "nhẫn cưới", "tơ hồng" v.v... Những tín hiệu trên được hoán dụ để bổ xung ý nghĩa toàn diện của tình cảm đó. Như vậy, cơ cấu ẩn dụ và hoán dụ có tác dụng thắt dệt những mối liên hệ mật thiết để tạo thêm chất liệu và chiều sâu cho thi ca.

 

Thơ Du Tử Lê cũng được kết tạo theo cơ cấu ẩn dụ và hoán dụ. Trước hết không gian và thời gian của thi tập "Chấm Dứt Luân Hồi: Em Bước Ra," (4) không còn là những hiện tượng biệt lập, khách quan, bất di bất dịch, có thể khẳng định một cách rõ rệt. Không gian và thời gian đã mất hẳn giá trị tuyệt đối của nó mà chỉ còn là những mối liên hệ mật thiết với đời sống biến động, bấp bênh, bất trắc. Ngoại cảnh và nội tâm đã thẩm thấu trào lực, xuyên giao vị trí trong một thế hiện sinh song hành. Trung tâm điểm của từng đơn vị hiện sinh đó đã bị lay động, xóa nhòa, sẵn sàng chuyển hướng tới những bờ cõi xa lạ, mà dị biệt đôi khi đã biến thể, qua hai trục ẩn dụ và hoán dụ, thành một hiện tượng phối diện. Như trong bài "Thơ ở thời của những người không tuổi trẻ":

 

chúng tôi lớn: vào đời không lựa, chọn
hoa tình cờ nẻ đá mọc hoang mang
suối không mạch: thác không nguồn: chảy ngược
ngón vực ngờ khỏ vỡ trán cô đơn
(cdlh, trg.15)

 

không gian và thời gian đã biến dạng thành những hiện tượng bất bình thường: "suối không mạch; thác không nguồn; chảy ngược". Những nghịch lý này được dùng để ám chỉ một khung cảnh vắng vợi, khô khan, vô tình, như một phá thể tan hoang của đất mẹ mất hẳn mẫu mực, mất hẳn lý tưởng bao bọc, nuôi dưỡng. Mảnh đất hoang đó hoang phế vì Người Mẹ đã thất tung, đã khước từ tình Người ngay trong tế bào và bản chất hiện sinh khiếm khuyết.

 

đừng xa nhau nữa. Đừng như mẹ
bỏ mặc nghìn đêm tôi
tạm dung
(cdhl, trg.60)

 

Thời và điểm đã qui tụ thành những mối liên hệ đối nghịch với lòng trời, với thế tuần hoàn thiên nhiên. Thời và điểm đã qui tụ để cưỡng bách thân phận con người, nay bị tước đoạt tự do và quyền chọn lựa sống, chết. Nhưng với một không gian và thời gian đảo ngược, khắc nghiệt như vậy, thân phận con người, dù yếu đuối như thảo mộc, vẫn đủ khí phách vượt thoát trở ngại để vạch đường, xẻ đá sống sót tới ngày nay. "Hoa" trong tâm hồn người thi sĩ là cơ duyên thăng trầm ẩn dụ thay thế kiếp người. "Đá" đã được hoán dụ để tạo thêm bế tắc trên đường đời phản, nghịch. Nhưng cũng để đem lại phép lạ cho sáng tạo qua thách đố và phá thể. Trong cảnh thế đó, thân phận con người đã được nhắc tới dưới nhiều hình thức: lúc chủ động trong ý thức nghịch lý; lúc thụ động như bóng chữ vô hình, vô biên. Đa số những đoạn thơ ngắn, tứ tuyệt, lục bát phá thể đã luân phiên gửi gấm đến những danh xưng như "nguyên sa, đào quý châu, từ công phụng... toàn bò, hùng muỗi... và đỗ quý toàn... và nguyễn ngọc bích... và đỗ hùng và, nga xa v.v..."

 

Cả trăm nhân vật" như vậy đã tham dự vào các vị trí khác biệt của cùng một trào lưu song hành. Lúc họ là đồng niên, là những sao ảnh nghiệp chướng (réduplication existentielles) của nhà thơ Du Tử Lê; lúc họ là những song bào/song thể (jumaux/doubles) của con người trong thơ. Họ đã bị lôi cuốn như bóng chữ, những dấu hiệu câm nín, vào thời vận và cảnh trí của thi phẩm. Trong những mối liên hệ hiện sinh và sáng tạo đó, họ đã bị không gian và thời gian ẩn dụ và chọn lựa để cùng đắm đuối hoàn thế nhau làm nhân chứng bất đắc dĩ cho chính cuộc đời mình đang phá thể.

 

năm mươi tuổi: chúng tôi không tuổi trẻ
thiếu quê hương: - phế bỏ võ công mình
(cdlh, trg.18)

 

Theo phân tích phá cách của trường phái "Déconstruction" (5) thì ý nghĩa chứa đựng trong đời sống và ngôn ngữ không hề có một nền tảng rõ rệt, vững chắc, mà trái lại, luôn luôn bấp bênh, thay đổi từ hoàn cảnh này sang thể cách khác. Tư tưởng và ngôn từ chỉ có thể nắm bắt một vài khía cạnh của ý nghĩa ẩn diện, như chỉ ý thức và biểu hiện được ánh sáng trong không gian, khi mặt sau còn là bóng tối. Ý nghĩa toàn diện luôn luôn vượt thoát khỏi tầm tay người chạy theo ý nghĩa tối hậu. Nguồn gốc và tầm vóc của ý nghĩa di tản và biến hóa không ngừng, tạo thành nghi vấn và ngộ nhận mà Du Tử Lê đã lồng vào thân phận con người trong cảnh huống trầm bổng của dự phóng "chấm dứt luân hồi" hiện sinh và sáng tạo.

 

Ở bình diện tư tưởng và văn hóa, muốn dứt điểm phải nắm bắt được dấu điểm ở trạng thái điển hình, rõ rệt. Theo thuyết nhà Phật, khi chúng sinh còn vấp cảnh luân hồi, chưa phá chấp vòng tử sinh để hội nhập cõi Niết Bàn, thì đâu là không, đâu là nhân, đâu là quả? Khởi đầu ở đâu và chấm dứt ở đâu? Chấm dứt sau khi khởi đầu hay khởi đầu sau khi chấm dứt?

 

để nhìn những người tình ra đi
như nhìn dòng nước chảy
(những dòng nước không có khởi nguồn
sẽ lấy đâu là điểm kết thúc?)
(cdlh, trg.122)

 

Sống và yêu, tất cả chỉ là ẩn dụ những trạng thái tạm bợ thay thế lẫn nhau, dịch biến từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Phải chăng đó là cách trì hoãn ngộ giác, trì hoãn đam mê tột đỉnh bằng

 

cách ẩn dụ những khởi đầu-không-khởi-đầu và hoán dụ những "chấm dứt" không-thể-chấm-dứt được. Sống và yêu là nợ nần, là trần thế, là tạm bợ. Nhưng vì còn nợ đời và lụy tình luân phiên, thay thế lẫn nhau, nên không sao thoát bỏ trần tục, không sao đạt tới mức tuyệt đối của lẽ sống. Chưa ngộ giác thì vẫn đắm chìm trong trong kiếp nhân quả, trong cảnh thế phân bộ, luân hồi triền miên. Cuộc sống và tư tưởng hiện sinh dứt điểm để luân lưu trong tạm bợ và phiếm diện, nghi vấn và ngờ vực.

 

tình yêu khắc lên xương nghìn dấu hỏi
ai đi rồi còn để lại con người?
(cdlh, trg.111)

 

mỗi trang sách bật lên nghìn dấu hỏi
nguyên không gian chưa chỉ dấu đi, về
(cdlh, trg.14)

 

Riêng về mặt ngôn ngữ, cụm từ "Chấm-dứt-luân-hồi" tự nó là một nghịch lý hoặc một nghịch biện. Nó thoang thoáng nhắc tới một công án khó hiểu của một vị thiền sư (Nhật ngữ gọi là "koan", thường được sử dụng trong Thiền môn Zen theo hệ phái Soto). Công án nêu lên một vấn đề sâu sắc, bí hiểm, khó có thể giải đáp (như "thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?" hoặc "Các pháp trở về một, một trở về chỗ nào?) Nghịch lý của ẩn ngữ trong câu hỏi gây thắc mắc, tạo thành nghi vấn và náo loạn tinh thần ("Brainstorming"). Người khán công án "lấy độc trị độc", sống chết với nghi vấn, sẽ giác ngộ khi phá vỡ được nghi vấn. Nghi vấn càng lớn, giác ngộ càng cao. Vậy nghịch biện "Chấm-dứt-luân-hồi" sẽ được khai triển đến mức độ nào trong thi ca Du Tử Lê? Phải chăng biểu ngữ (signifiant/signifier) (6) chấm/dứt" ám chỉ một tác động kết thúc quyết liệt đưa tới việc "chấm xuống dòng" để sang một giai đoạn mới? Phải chăng tác động đó cũng được đồng hóa với sự vung tay theo đường dao cắt-đứt-đoạn, mà phân tâm học -psychoanalysis, (7) gọi là "castration", hoặc "hoạn", một hiện tượng cắt, bỏ đưa tới đoạn giao, tuyệt tích giang hồ, ngay trong tâm dục.

 

người ở cùng tôi: mỗi đứt, lìa
......................
chấm dứt luân hồi:
em bước ra
(cdlh, trg.36)

 

Nhưng ý đồ "hoạn" hoặc đoạn giao đó không đen trắng rõ rệt, mà lại xam xám ẩn dụ một nét dao giơ cao "không-cắt-đứt", khi "chấm dứt" không còn là một tác động vụn vặt, mà lại trở thành một trạng thái vô thường, một dấu hiệu của thay đổi, đổi thay liên tục trong vị trí ghép nối với thành tố "luân hồi". Dấu hiệu "chấm dứt" đã được "luân hồi" hóa để tái sinh thành những dấu điểm mới, ngược xuôi, xuôi ngược. Dấu điểm "chấm dứt" trước đã được xóa bỏ và thay thế bằng những dấu điểm "chấm dứt" sau, để tái sinh trong vòng dứt-điểm-không-dứt-điểm. Đó là những trạm-cuối và cũng là những trạm-đầu của trạng thái ẩn dụ hiện sinh tạm bợ bên cạnh những hoán dụ sáng tạo, biến chế song song, khác biệt và liên tục. Sống và yêu chỉ còn là những hiện tượng trì hoãn về ý tưởng sống và yêu, trì hoãn bằng cơ thể và cũng bằng tâm thể, qua những mối liên hệ luân phiên trong phiếm diện, trong hư thực lẫn lộn. Phải chăng huyền thoại "chấm dứt luân hồi: em bước ra" là công án táo bạo làm người cầu cạnh náo loạn vì mắc mưu nghi vấn bí hiểm do thách đố chính mình đề xướng (đề, sướng)?

 

Đó cũng là dòng tâm tưởng luôn luôn được trì hoãn để tạo thành hồn thơ bỏ ngỏ trong thi ca Du Tử Lê. Hồn thơ đó đang thay thế cho một dòng đời vừa gần gũi, vừa bao la thành nghi vấn và bí ẩn của câu hỏi không thể trả lời: hồn thơ bỏ ngỏ như mở rộng để ẩn dụ dấu điểm "chấm dứt" của ý niệm chết ngay trong nhịp sống hiện tại.

 

tôi muốn rủ em dời cư địa ngục
âm cảnh kia: phó bản của dương gian
(cdlh, trg.76)

 

Mở rộng để hé nở thành tin tưởng khi thơ hoán dụ nổi nụ sống từ đổ vỡ đầy đọa, từ cõi chết giữa lòng đá hoang vu. Dấu chết và nụ sống vẫn chuyển hóa "luân hồi" thành chông gai đầy đọa, thành ước vọng trần gian. Nghi vấn ngờ vực và ngộ nhận còn khai triển miên man khi nguồn gốc và mẫu mực, sự thật và chính nghĩa, giáo điều chỉ còn là huyền thoại và mê hoặc, tuyên truyền và cuồng tín, áp lực và bạo hành. Ý nghĩa về cuộc sống-chết đuổi bắt nhau vô tận, đến mức độ song hành, trực diện.

 

khi chết thành ma? Giờ cũng vậy
chỉ như mặt khác tấm gương soi
sống đây. Sống đấy mà đâu hiểu
vạn kiếp trong cùng một kiếp thôi
(cdlh, trg.115)

 

Ý nghĩa về đời sống không còn hoán dụ, chờ đợi để bổ túc với ý niệm chết chóc, mà đã hoàn toàn ẩn dụ ý niệm này ngay trong hiện tại: sống và chết chỉ là hai mặt sáng và tối của cùng một hiện tượng đồng khởi, luân lưu, thay thế nhau bất kỳ hạn. Nghịch lý và thuần lý, huyền thoại và lịch sử bôi bác, sửa sai lẫn nhau, lôi cuốn, lồng tách nhau, trong thế hội nhập mông lung, muôn hình vạn trạng. Huyền thoại và lịch sử có triển vọng và khả năng thu hút, chiêu dụ, đồng thời cũng có âm mưu và tác dụng ly gián, khai trừ. Nhân loại đầy tràn kỳ vọng và cùng lúc ngột ngạt, trống trải, lạc lõng. Chưa lúc nào hơn lúc này, ngôn ngữ đã trở thành con dao hai lưỡi, vừa chém, vừa ghép: vừa hứa hẹn, vừa bội bạc; vừa bạch hóa, vừa nhị trùng, phản trắc. Ngôn ngữ đã bắt nguồn từ thân phận con người, nên "Chấm-dứt-luân-hồi" trong thi ca Du Tử Lê, cũng như trong hơi thở và dòng tư tưởng hiện tại của nền văn học hải ngoại, là một huyền thoại: tự lột xác để khoác lên thân thể mình, lên tư tưởng và ngôn từ hiện sinh một tấm da mới-mọc-lại từ cơ thể cũ cằn, một hiện-tại-không-hiện-tại, một quá-khứ-chưa-quá-khứ.

 

tự lột da mình: ta đỏ tươi
(cdlh, trg.27)

 

Đó là thái độ dằn vặt, ray rứt trước việc lựa chọn thái độ hiện sinh căn bản, đôi khi quyết liệt như hiện tượng sống và chết. Du Tử Lê đang mắc kẹt ở thế đứng biên tế đó, trong hành động bất động, tê liệt và bất toại. Với trạng thái dứt điểm không dứt điểm, thân thể và tâm thể Du Tử Lê đang phá cách và biến dạng qua dòng thơ tự "hoạn", luôn luôn chọn cắt đoạn bằng nét chấm, phẩy, "phạt ngang" (/)... cốt để đoạn giao tư tưởng mình, trì hoãn cuộc gặp gỡ với ý nghĩa tối hậu và đẩy xa giao điểm tương phùng, hạnh ngộ. Đó là cuộc phiêu lưu hồ hải bắt đuổi miệt mài bóng chữ mong manh, mờ ảo, để dấu hiệu đa đoan tung hoành, thay thế lẫn nhau, biến thể thành dòng thi ca của vòng "chấm dứt luân hồi" không-chấm-dứt. Của trào lực tình cờ và tạm bợ. Của sáng tạo vô thường, trong tự do tuyệt đỉnh. Của những sự thật hiện sinh, đơn độc:

 

ngày mai ai cũng là thi sĩ
tìm thấy vầng trăng thật: của mình
(cdlh, trg.118)

 

Lưu Nguyễn Đạt

(Cỏ Thơm số 8, tháng 4,1998)

 

-----------------------------------------------------------------------------------------

(2) Ferdinand de Saussure, Course in General Linguistics, London, 1978.

(3) Roman Jakobson, Fundamentals of Language, The Hague, 1953;

Main Trends in the Science of Language, London, 1973.

(4) Du Tử Lê, Chấm Dứt Luân Hồi: Em Bước Ra, Tủ Sách Văn Học Nhân Chứng, 1993. Trong bài tham luận, thi phẩm được dẫn giải và ghi tắt là cdlh với số trang liên hệ.

(5) Jacques Derrida, Speech and Phenomena, Evanston, III., 1973;

Of Grammatology, Baltimore, 1976;

Writing and Difference, London, 1978; Positions, London, 1981;

Ann Jefferson, "Structuralism and Post-Structuralism" in Modern Literary Theory: A Comparative Introduction. London, 1982;

Christopher Norris, Deconstruction: Theory and Practice, London, 1982;

Jonathan Culler, On Deconstruction, London 1982;

Geoffrey Hartman, Deconstruction and Criticism, London, 1979.

(6) Ferdinand de Saussure, Course in General Linguistics, London, 1978;

Rolans Barthes, Writing Degree Zero, London, 1967; Elements of Semiology, London, 1967;

Mythologies, London, 1972; S/Z, London, 1975; Pleasure of the Text, London, 1976

(7) Sigmund Freud, Introductory Lectures on Psychoanalysis; The interpretation of Dreams; On Sexuality and the Case Histories, Pelican Freud Library, 1973-86;

Terry Eagleton, Literary Theory, Minneapolis, 1996.

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười Một 2017(Xem: 4423)
01 Tháng Tám 2017(Xem: 8426)
27 Tháng Chín 2016(Xem: 2648)
19 Tháng Sáu 2016(Xem: 6841)
16 Tháng Năm 2016(Xem: 8304)
07 Tháng Năm 2016(Xem: 4904)
10 Tháng Tư 2016(Xem: 5650)
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 120)
Tuyển tập này, cũng nên được nhìn như một ghi nhận tình bạn lấp lánh, thuở họ còn đủ ba người.
(Xem: 189)
Khởi thủy khi tìm về nhạc Việt, Elvis Phương chỉ biết một bài duy nhất là ca khúc”Mộng dưới hoa”, thơ Đinh Hùng, nhạc Phạm Đình Chương!!!
(Xem: 205)
Trong sinh hoạt âm nhạc tại miền nam VN, 20 năm (1954-1975) rất nhiều người biết tên tuổi nhạc sĩ Ngọc Chánh.
(Xem: 195)
ở truyện ngắn cuối cùng tập truyện của mình, Đinh Phụng Tiến đã hiển lộng khả năng dựng truyện, làm chảy nước mắt người đọc một-cách-tài-ba-trong-nhói-đau-từng-khúc-ruột của cá nhân ông, trước nhất?!?
(Xem: 11765)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1017)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 5815)
“Ngay sau khi gặp ông, tôi đã bước sang “chặng đường ngỡ ngàng.” Không ngỡ ngàng sao được khi mà đứng bên ông
(Xem: 1359)
DU TỬ LÊ cũng là một nhân vật đặc biệt. Nhỏ hơn họ Trịnh vài tuổi. Gốc gác Phủ Lý, Hà Nam. Sống ở Hà Nội, trước khi theo gia đình di cư vào Nam.
(Xem: 9920)
nhà văn, nhà thơ Du Tử Lê là một trong những thi sỹ có khá nhiều bài thơ được phổ nhạc kể từ những năm trước 1975 đến nay
(Xem: 122)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 282)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20035)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 14918)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12426)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 15609)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 13729)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12201)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10229)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9510)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9603)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 8829)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8454)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9566)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 14856)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21118)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27022)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18490)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19603)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 23866)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21523)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 17985)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,835,101