Trò Chuyện Trên Mạng Với Nhà Văn Hoàng Chính (Kỳ 5)

13 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 8976)
Trò Chuyện Trên Mạng Với Nhà Văn Hoàng Chính (Kỳ 5)

 

hc01-content-content


* Câu hỏi của Hoang Nguyen

 

Khởi đầu nhà văn Hoàng Chính đã đến với văn chương như thế nào? Khi qua nước ngoài ông còn hành nghề chính của mình là bác sĩ không?


 

* Hoàng Chính trả lời:

 

Đến với văn chương hay văn chương đến với mình. Tôi loay hoay hoài với ý nghĩ đó từ khi đọc câu hỏi của anh / chị Hoàng Nguyễn. Còn nhớ như in năm đệ lục. Bài luận văn thể loại kể chuyện. Tôi viết về một người bạn cùng lớp chuyên bắt nạt kẻ khác. Tôi gầy gò, yếu đuối, nên cũng là một nạn nhân. Anh ta tên T., có cái sẹo lớn bên thái dương. Bạn bè gọi là T. Sẹo. Bài luận văn được thầy đọc cho cả lớp nghe. T. Sẹo tức lắm, đòi đấm tôi vỡ mũi, nhưng không làm gì được, vì tôi có số đông (những kẻ bị áp bức). Khi bị đón đầu sau giờ học, tôi lúng túng biện minh bằng câu thần chú có những chữ quyền tự do ngôn luận (hình dung một thằng bé - người ta vẫn mỉa mai một cách dễ thương là miệng còn hoi sữa – dựa hơi lũ bạn vây quanh, gân cổ đem hiến pháp nước Việt Nam Cộng Hòa có điều khoản về tự do ngôn luận ra, tự biện hộ ở sân trường). Ấy là tác phẩm văn chương “dấn thân” đầu tiên. Có nên xem đó như bước đầu mình đến với văn chương? Hay là văn chương đến với mình?

 

Chắc là cả hai đều không rồi!

 

Nhớ thời tiểu học, thơ ấu tôi không có thả diều, bắt dế dù tôi lớn lên ở làng quê. Sơn Trà, Đà Nẵng. Những trò chơi trẻ thơ tôi luôn dính dáng ít nhiều đến chữ nghĩa. Tôi làm báo một mình. Tờ giấy trắng xé từ trang vở, gấp làm tư làm tám. Những dòng chữ nắn nót. Những tranh vẽ tỉ mỉ bên cạnh các bản tin. Độc giả là mấy cô em gái. Những độc giả đầu đời thường khi phải đánh vần tin tức. “Tin giờ chót: Thứ sáu bố mới đi hành quân về.” Sao bố đi hành quân hoài vậy? Độc giả bé con thắc mắc. Chủ báo chuyển câu hỏi cho mẹ. Con mắt mẹ ướt nhòe. Không nhớ lần ấy mẹ tôi đã trả lời thế nào cho con bé em ngây thơ. Nhưng tôi nhớ rõ thứ sáu ấy bố không về được, vì mới có thêm trận đánh nào đó ở Bồng Sơn. Hôm sau, tờ báo phải đăng tin cải chính. Cái tên Bồng Sơn bây giờ tôi vẫn nhớ. Hơn nửa thế kỷ rồi.

 

Những chuyện vặt vãnh trẻ con ấy chẳng biết có thể coi là dấu vết của một nhập cuộc, của sự bước chân vào một nơi chốn?

 

Chắc cũng không rồi!

 

Rời tiểu học, tôi vào Sài Gòn. Bố mẹ sợ miền trung ly khai. Mỗi tháng một lần, tôi đi bộ ra ngã tư Xóm Mới, mua một cuốn Tuổi Hoa. Cái truyện ngắn đầu tiên trong đời viết về một gã (nhân) vật kiến kiêu căng rụng mất một sợi râu trong cuộc hơn thua nhỏ nhen, đã vung gươm xưng hùng xưng bá trong một tổ kiến gồm toàn những kiến thợ siêng năng, được đăng trên tờ báo thiếu nhi ấy có thể coi như bước đầu tìm đến với văn chương không nhỉ?

 

Chắc lại cũng không rồi!

 

Năm đệ tứ, đi với đứa bạn lên đài phát thanh Sài Gòn lãnh tấm ngân phiếu giải thưởng thơ. Cũng năm đệ tứ, gom những bài thơ mày mò viết từ thời vào trung học. Mua giấy stencil, mỗi chiều thứ bảy theo bố vào Tổng Y Viện Cộng Hòa nhờ cái máy chữ, đánh những trang bản thảo đầu tiên. Người quen làm ở đài truyền hình Sài Gòn đem vào chỗ làm quay ronéo giùm. Hí hửng đem về nhà cắt dán, đóng tập. Mùa Thu Hoang Đường. Tặng sách lần đầu tiên cho một cô gái không còn nhớ tên ở Sài Gòn, có bà mẹ làm Nha Sĩ (hay chuyên viên răng giả gì đó).

 

Có thể khoe là mình đã đến với văn chương từ lúc ấy không. Chắc lại là không rồi, dù bài thơ trúng giải được Hồ Điệp và Hoàng Hương Trang ngâm trong đêm giao thừa, dù cậu tác giả học trò đã được cô gái (con nhà giầu kia) yêu cầu ký vào trang đầu tập thơ in ronéo lem luốc.

 

Cũng từ năm đệ tứ, tôi bắt đầu đỏ đen với truyện ngắn, trên hai tờ nhật báo ở Sài Gòn. Truyện được đăng thì có tiền nhuận bút. Báo Trắng Đen: một ngàn, báo Tiền Tuyến: năm trăm. Người bạn cùng lớp có sứ mạng lân la chuyện trò với cô gái ở sạp báo ngã tư Xóm Mới, xem ngày nào truyện được đăng thì mua tờ báo ấy. Bởi khi lãnh nhuận bút phải mang theo thẻ căn cước, thẻ học sinh và trang báo có truyện được đăng. Tôi cắt những cột báo đăng truyện mình để dành thành một xấp, mỗi lần mở ra xem mực lại lấm lem những đầu ngón tay. (Sau 75, cứ mỗi lần “chiến dịch”, lại một đợt sách vở ra đi. Những trang báo có truyện ngắn tôi theo nhau lên dàn hỏa. Tôi ngẩn ngơ tiếc nuối không biết bao lâu.)

 

Sau một đợt truyện ngắn, báo Trắng Đen chọn ra những truyện hay, trao giải. Buổi phát giải có bữa tiệc thịnh soạn trong một nhà hàng lớn ở Sài Gòn. Đến bây giờ tôi chỉ còn nhớ hai thứ: con cua rang muối to hơn cái đĩa chưa ai kịp động tới thì nhà hàng đã dọn đi, và lúc trao cái bao thư tiền thưởng, thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà (“Hoa trắng thôi cài trên áo tím”) đã bắt tay tôi và bảo: “Cố lên, năm tới trúng giải nữa nhé!”

 

Câu khuyến khích làm tôi thất vọng, cho đến tận bây giờ.

 

Vậy thì những truyện ngắn (có nhuận bút hẳn hoi) đăng trong Tiền Tuyến, Trắng Đen có thể xem như bằng chứng của sự “đến với văn chương” không?

 

Chắc là không rồi!

 

Cùng với những mộng mơ mới lớn tôi lân la vào Tuổi Ngọc. Chuyến nhuận bút đầu tiên: chồng sách tặng của Duyên Anh, Đinh Tiến Luyện, Từ Kế Tường… Con mắt ngưỡng mộ của đám bạn cùng trang lứa; cảm giác lâng lâng khi lạc giữa Sài Gòn một buổi chiều tìm địa chỉ Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa đâu đó trên đường Công Lý còn mãi trong trí tưởng. Thế nhưng giữa cái thời rực rỡ của những Khởi Hành, Văn, Vấn đề, Bách Khoa… thì Tuổi Ngọc chỉ là trang báo học trò. Vậy thì khi có những truyện ngắn thể loại “Bông hồng cho tình đầu” đăng trên Tuổi Ngọc, mình có thể tự hào rằng mình đã đến với văn chương không?

 

Có lẽ không!

 

Bởi ấy chỉ là những mơ ước trẻ con, những vẽ vời niên thiếu.

 

Khi tôi bắt đầu viết được những câu, những chữ có gói ghém chút tâm tư thì đất nước đã đổi thay. Đưa bài thơ vô tội vạ cho báo xuân trong trường cũng được yêu cầu bỏ cái bút hiệu ngày xưa đi.

 

Biết làm sao bây giờ!

 

Đến Canada. Bài thơ tình đầu tiên (ký tên thật) trên Làng Văn cải lương như thế này:

 

thì thôi

lúc rước dâu về cứ vui

cuống quýt

có hề chi đâu

lại còn ngóng trước

trông sau

thấy tôi chi

để cơ cầu sớm hôm

 

Lúc đăng trên báo “thấy tôi chi” được sửa thành “lấy tôi chi” khiến tác giả đang là kẻ thắng lớn bỗng thành kẻ thua đau. Vậy thì cũng không thể kể lần ấy là lần chính thức đến với văn chương, cho dù Làng Văn những năm 80 đầy ắp những tác giả quen tên của Sài Gòn thuở trước.

 

Rồi truyện ngắn đầu tiên viết ở hải ngoại Mùa Thu Cuối Cùng - da diết với chuyến dang dở đầu đời - đăng trên tạp chí Văn Học ở California, chẳng hiểu sao, cứ làm tôi nghĩ là đã đánh dấu bước đầu tiên mình đến với văn chương, có phải chỉ vì nhà văn Nguyễn Mộng Giác (chủ bút Văn Học lúc ấy) điện thoại cho tôi, bảo: “Viết vậy sao không viết nhỉ!”

 

Và tôi mang ơn câu khích lệ ấy.

 

Và tôi đinh ninh mình đã đến với văn chương, dạo ấy.

 

Năm 1983 cô em gái bên nhà (vị độc giả nhi đồng đã đánh vần từng chữ trong bản tin trên “trang báo” ngày xưa) chép những bài thơ chi chít lên những trang giấy mỏng - những bài thơ dạo tôi còn loay hoay với những công tác y tế ở Đồng Xoài, ở khu kinh tế mới Lê Minh Xuân, ở phòng trực bệnh viện Chợ Rẫy… viết ra chỉ biết nhét sâu vào ngăn tủ - gửi qua. Gom góp thành tập, đưa bản thảo cho Làng Văn. Ngồi với nhà thơ Cung Vũ soạn thơ. Anh bảo nhiều bài như thế này sẽ dày lắm. Thơ không nên in dầy. Tôi nhắm mắt lấy đại ra một số bài và đưa anh phần còn lại, anh bảo, “Chưa bao giờ thấy thi sĩ nào chọn thơ nhanh và liều như vậy!”

 

Đứa con đầu lòng ra đời ở xứ người. Nửa Đêm Nghe Mẹ Thở Dài. Làm sao quên được một đêm chợt nghe tiếng mẹ thở dài lẫn trong tiếng chó sủa và tiếng công an lao xao ngoài ngõ. Có những điều nói hoài không hết. Nên từ đó những tập truyện; ngắn, dài theo nhau ra đời. Tôi viết nhưng cứ nơm nớp lo âu có một ngày mình thành cũ kỹ, nhàm chán.

 

Chín mươi triệu người nói tiếng Việt trên thế giới. Những điều mình viết ra ở xứ người, bằng tiếng Việt, số người đọc, lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Vài truyện ngắn Anh ngữ, phát thanh trên BBC, những đồng nghiệp người Canada thích thú đón nghe càng làm tôi thấy dường như đó chỉ là sự nôn nóng của một người da trắng vào tiệm Việt Nam, háo hức chờ tô Vietnamese soup có cái tên “phở” phát âm lơ lớ.

 

Đôi khi tôi tự hỏi, vậy thì, mình đã đến được với văn chương chưa.

 

Chắc là chưa. Và câu trả lời cho anh / chị Hoàng Nguyễn là viết thì viết thế thôi chứ thật lòng, tôi không biết mình đã thực sự đến được với văn chương hay chưa.

 

Chuyện (nghề) tay trái thì lung tung như thế, còn chuyện (nghề) tay phải thì đơn giản thế này:

 

Đến Canada 1982, tôi đậu bằng tương đương y khoa xứ này (những hai lần trong mười năm đầu) nhưng lại làm (toàn những) nghề chẳng dính dáng gì đến ống nghe và toa thuốc. Ngặt nghèo lắm mới phải bỏ quê nhà mà đi. Các bạn cùng lớp tôi bây giờ toàn những trưởng khu, trưởng khoa; những trưởng nọ, phó kia. Bây giờ đời sống bớt đọa đày, không biết những người bạn thầy thuốc của tôi có thời gian ngồi bên giường người bệnh, rỉ rả những “chuyện kể bên giường” như (nhân vật) tôi thuở nào?

 

Bây giờ tôi chẳng còn nhớ trái tim bình thường ở phía nào trong lồng ngực. Nhưng lo làm gì, bởi tôi biết trái tim những kẻ có lòng có thể ở bất cứ nơi nào: ở đuôi con mắt, ở đầu ngón tay, ở trên những ngọn cây, trong những mái tranh lụp xụp, cuối những con hẻm hẹp hòi đời sống, ở trên trang giấy hay ở ngay cả trong ngăn tủ, nơi người ta thường giấu những trang thư.

 

Cám ơn anh / chị Hoàng Nguyễn đã cho tôi dịp ngồi nhớ lại những khoảnh khắc dễ thương và xin quý độc giả (đã bỏ thì giờ nghe chuyện dông dài) rộng lượng với những mảnh “tôi” rất trẻ con, dù cho tới hôm nay nhìn lại mình, thấy vẫn chẳng lớn hơn đứa bé năm xưa chút nào.

 

 

 

***

 

Chuyện Kể Bên Giường


truyện ngắn - hoàng chính
giai phẩm Chủ Đề số 14

 


1

Bằng ngôn ngữ không chủ từ, bằng câu kệ không đầu đuôi, tôi cố thuyết phục bệnh nhân rằng chết không phải là chọn lựa thích hợp, rằng đâu đó trên thế gian này vẫn còn một người yêu thương cô hơn yêu thương chính mình, rằng trong những thứ con người có được, không gì quý bằng mạng sống. Tôi nói cho một mình tôi nghe. Tôi kể chuyện mẹ tôi. Tôi kể chuyện cha tôi. Tôi kể chuyện em gái tôi. Tôi kể chuyện nửa đêm tôi quýnh quáng lại nhà người bệnh. Con mắt đứa bé đã đứng tròng, chân tay co giật từng hồi. Đã muộn mất rồi. Nhưng người mẹ khóc lóc nài van. Chích cho cháu mũi thuốc hồi sinh. Hay thuốc gì cũng được. Miễn là có chích. Biết đâu cháu nó lại không chết. 



2

Có nên vô thăm con nhỏ đó không. Cô y tá hỏi tôi. Những người mới ra trường - mà thiên hạ gọi đùa là ma mới - hay hỏi lẩn thẩn. Cách tốt nhất là đừng bận tâm trả lời. Tôi ngó đôi mắt một mí rồi đón lấy tập hồ sơ mỏng, nhìn lướt dòng chữ nguệch ngoạc mà đêm trước loay hoay với con bệnh, tôi đã sai y tá viết vội. Cái tên đồng quê, nơi những bụi chuối rì rào sau khoảng vườn xanh um cây trái. Cái tuổi là của một người vừa bắt đầu biết liếc dọc liếc ngang khi đi qua quán nước có bọn trai trẻ ồn ào cụng ly, gõ muỗng. Tôi nheo mắt cố nhớ cái địa danh ở tuốt đâu trong xó kẹt một huyện lỵ miền sông Hậu, nơi phải quá giang đò máy mỗi lần ra phố chợ.

Ông thầy nhớ cẩn thận. Cô y tá dặn dò. Hồi hôm con nhỏ đó dợt bác y công ể mình luôn.

Tôi nhìn cái dáng mỏng như tàu lá chuối. Sao vậy?

Ông thầy hỏng tin hả. Cô đẩy khẽ tôi đứng yên một chỗ rồi chạy vụt đi. Cái bóng nhỏ bé trong chiếc áo choàng lùng thùng luồn lách giữa những giường bệnh, ghế ngồi, chiếu rách và người chen chúc nhau trong khoảng hành lang hẹp. Cái bóng thoăn thoắt gợi nhớ đến đám chuột nhắt thường xục xạo kiếm ăn ở phòng trực. Những con chuột bé tí nhưng khôn và nhanh hết biết.

Vài giây sau cô trở lại, kéo theo người y công. Nhùng nhằng như hai người bắt nợ. Ông thầy coi mặt chú Tư nè. Sưng thấy sợ luôn.

Tôi nhìn cái trán giồ lên một cục mầu đỏ thẫm. Sao vậy?

Con nhỏ đó đó. Ma mới trả lời hớt.

Người đàn ông thấp bé đưa tay đỡ một bên đầu, nheo mắt suýt soa. Hồi đêm con nhỏ tỉnh dậy, thấy nó khát nước tội nghiệp, tui đem nước cho nó uống ai dè nó quăng cái ly lên đầu tui. Đồ quỷ cái.

Tôi chạm ngón tay lên u trên trán người y công. Có nhức không, lấy thuốc trong phòng khám uống đỡ.

Người đàn ông lắc đầu. Nhằm nhò chi đâu ông thầy.

Hổng sao đâu, chú Tư bị thím Tư uýnh hoài à. Ma mới chêm vào rồi che miệng cười khúc khích. Chuyện bác y công bị vợ đánh xưa lắm rồi, chỉ ai mới nghe lần đầu mới có thể bật cười như thế. Cô y tá này chưa được bà trưởng phòng nhân viên huấn luyện kỹ lưỡng. Tôi tự nhủ sẽ giảng cho cô ta bài học xử thế. Bệnh nhân và người nhà nằm ngồi la liệt thế này mà y tá, y công đùa giỡn thì còn gì thể thống.

Thấy tôi chăm chú nhìn vào hồ sơ bệnh lý, con ma mới và người y công kín đáo liếc nhau rồi ngập ngừng bước về phía phòng “săn sóc đặc biệt”.

Nghe có vẻ trầm trọng, thực ra chỉ là căn phòng cũ kỹ, hôi mốc mà nhân viên đã cố làm cho ra vẻ “chuyên môn” bằng cách kéo lên những bức vách xiên xẹo rồi tẩm thật nhiều mùi cồn và thuốc sát trùng lên nền nhà và những tấm khăn trải giường.

Vừa lách qua khung cửa, bắt gặp cái bọc nhựa có chai thuốc tẩy mầu và bộ quần áo nhăn nhúm, tôi quay sang hỏi ma mới.

Sao lại để những thứ đó ở đây.

Cô lúng túng tìm câu trả lời. Chút bối rối trong những chớp mắt tan vào cái nghịch ngợm trẻ con. Ngôn từ nhảy nhót trên cánh môi.

Dạ, mấy chị bên cấp cứu chuyển nguyên con lên như vậy đó.

Ma mới nháy mắt với người y công. Anh ta nhanh nhẹn chộp lấy bọc hành lý của Thần Chết, thoăn thoắt bước đi, đôi dép nhựa quét xàn xạt trên nền xi măng.

May mà bệnh nhân không uống nửa chai còn lại. Tôi nói.

Hai con mắt một mí bối rối nhìn ra cửa sổ nơi chút nắng đầu ngày nhấp nháy trên khung kính mờ. Không còn gì để nói. Cô y tá sượng sùng chôn chân trên nền nhà. Cái đầu hơi cúi nhưng con mắt nhìn lên, dán lên tôi một nửa tia nhìn nghi ngại, thân mình khẽ đu đưa như vướng mắc một điều muốn nói. Nhưng cô chưa kịp nói gì thì người y công đã vạch đám bệnh nhân và thân nhân tụ tập trong hành lang hẹp, hổn hển trở về.

Vào phòng săn sóc đặc biệt, hai ngưòi chia nhau đứng hai bên giường bệnh như sẵn sàng ra tay can thiệp khi có chuyện bất ngờ. Bốn con mắt dán vào cái khối lùng nhùng chăn gối võng xuống trên chiếc giường cũ mà lò so đã giãn tới cực độ.

Cô y tá run run giở mép tấm khăn, thì thào.

Thắm ơi, Thắm à!

Tiếng thở phì phò vọng ra từ dưới lớp vải. Vệt vàng sậm loang trên tấm khăn trông giống hình một bàn tay bốn ngón. Cái thân người nằm nghiêng co quắp ấy khẽ nhúc nhích. Hai chân hơi duỗi ra. Một bên vai lay động, chiếc lưng uốn éo.

Tôi gấp hồ sơ lại, bước tới bên giường. Đã ngửi không biết bao nhiêu năm tháng cái mùi phòng săn sóc đặc biệt mà tôi vẫn không khỏi thấy ngứa hai hốc mũi. Cái ngứa sần sượng khiến mình chỉ muốn luồn chiếc bàn chải nhỏ vào mà chà sát cho thoả thuê.

Cô y tá lay nhẹ chỏm vai người bệnh. Thức dậy, sáng rồi.

Tiếng ậm ừ trong cuống họng luồn ra khỏi chiếc gối ủ quanh đầu và lớp vải khăn trải giường cũ kỹ nghe xa xôi như vọng ra từ trong vách tường xi măng tróc lở. Bàn tay cô y tá lay mạnh hơn. Âm thanh ngầu đục lại phát ra, lần này nghe như tiếng gầm gừ của con thú bị bỏ đói lâu ngày.

Giọng cô y tá khẩn trương hơn. Thức dậy, Thắm à.

Hổng muốn thức.

Trong chuỗi âm thanh sần sượng tôi nghe ra ba chữ ấy. Chắc cô y tá cũng nghe được nên cô hăng hái kéo bật hẳn góc khăn trải giường ra khỏi đầu người bệnh. Góc khăn tuột ra nhưng khuôn mặt vẫn vùi sâu dưới tấm gối trắng. Mảng tóc đen lòa xòa trên nệm.

Người y công đánh nhịp bàn chân phải. Trong mắt anh ta thẫm cái mầu tối ám.

Tui không muốn thức. Tui muốn chết.

Câu nói mạch lạc luồn ra từ chiếc gối nhàu. Cánh tay vòng quanh đầu như vòng gai cứu chuộc. Những móng dài tróc loang lổ. Buổi chiều hôm trước, lúc rửa ruột cho bệnh nhân, tôi không để ý cái màu sơn máu bầm ấy.

Tui không muốn thức. Để tui ngủ luôn.

Cô y tá lắc nhẹ chiếc vai gầy. Nói gì nói lại nghe coi.

Trường lớp nào đào tạo ra cô học trò y tế nói chuyện không chút năng khiếu nghề nghiệp như thế. Tôi chưa kịp nói gì thì ngưòi y công xen vào. Thức dậy cho bác sĩ khám bệnh.

Tấm khăn đắp nhăn nhúm như mặt nước ém con sóng ngầm. Bất chợt mặt nước ấy bung ra thành lòng sông sủi bọt giữa những đợt sóng cuồng. Bàn tay móng đỏ giật mặt gối sang một bên. Cái đầu rũ rượi rồi cả thân hình nhàu nhò xoay lại phía giọng đàn ông vừa mới phát ra. Bác sỉ hả. Thằng cha bác sỉ bất nhân đó hả. Chả còn lại đây làm chi. Cả thân người vùng vẫy như con cá bị đập đầu. Hai chân đạp nhùng nhằng trong tấm khăn. Thân thể oặt oẹo cơn động kinh hoảng loạn. Tui không muốn thấy mặt cái người bất nhơn. Kêu thằng chả đi đi.

Thắm à. Thắm. Cô y tá vừa luống cuống đặt hai bàn tay lên vai ngưòi bệnh vừa rối rít gọi. Thắm ơi. Ngoan đi cưng. Ngoan đi mà. Bác sỉ H. nè, bác sỉ H. đã cứu Thắm hồi hôm qua đó, biết không?

Bác sỉ hả, bác sỉ gì mà dô nhân đạo dị chớ.

Cái đầu lắc lư, tóc rối như miếng bùi nhùi rách. Con mắt nhắm nghiền, răng nghiến vào nhau. Hai tay vung đập cả lên thành giường. Mấy người đi hết đi. Rồi con mắt bỗng nhiên trợn trừng. Tay vồ lên mặt cào cấu. Mười vệt móng tay vạch đỏ lừ hai má. Những đường kẻ răng cưa tươm máu. Cái lưỡi tím ngắt thè dài, nhớt rãi trào ra. Mấy người không đi tui cắn lưỡi tự sát cho mà coi.

Âm thanh đọng lại nơi hai hàm răng kềm chặt chiếc lưỡi nhầy nhụa nước bọt. 



3

Lúc ra ngoài hành lang, cô y tá đi sát vào tôi, thì thầm. Đúng là làm ơn mắc oán, thày há.

Phải trả lời sao đây. Nếu coi là việc phải làm thì có chi là ơn nghĩa và có gì đáng gọi là oán. Ý nghĩ xoay trong đầu. Nhưng đó đâu chỉ thuần túy là công việc. Thân xác tím bầm vật vã trên chiếc giường xô lệch đâu thể coi như chiếc máy bơm hư, chỉ cần thay những ống cao su mới. Trong cái thân thể nhàu nhò ấy còn cả một thế giới tâm linh.

Nhắm chừng con nhỏ có sống được hông, hả thày?

Thân thể mỏng gầy của cô chạm nhẹ vào người tôi trong lúc rảo bước nhưng câu hỏi thì chạm mạnh vào một góc vắng tư duy. Trong một giây, cái thắc mắc ngàn đời ấy khuấy động cả tâm tư người thầy thuốc. Niềm tự hào bốc lên như luồng hơi nóng trong nồi nước tự ái đang sôi.

Sống chứ. Tôi quả quyết. Dù cô ta không muốn sống cũng không được.

Rồi tôi ngưng ngay câu nói. Kẻ nào đó trong tôi nhắc nhỏ rằng nói năng như thế có quá đáng không. Hình ảnh những lọ thuốc lem luốc, những bọc nước biển đục lờ, những ống chích với kim tà đầu xài đi xài lại, những dao kéo cùn mằn kéo nhay vết mổ diễu hành trong trí. Nhưng bên những trang bị nghèo hèn ấy còn một thứ mà bệnh nhân của tôi có thể sẽ cần đến, thứ ấy là hàng ngoại, quà tặng nhân đạo từ Bắc Âu. Thế nên tôi tạm yên lòng. 



4

Ngoài ba mươi tuổi. Những nếp nhăn trên trán và mái tóc lốm đốm sợi bạc khoe với cuộc đời như thế.

Anh là người nhà của cô Thắm à.

Hai bàn tay đang thả xuôi theo thân mình, bắt gặp câu hỏi, vội xoắn vào nhau. Dạ thưa. Một chút ngần ngừ. Hai con mắt ngó nghiêng. Rồi hai con mắt vẽ xuống nền xi măng lồi lõm câu trả lời vòng quanh những nét bút chì trẻ con nguyệch ngoạc trang giấy.

Dạ hỏng phải người nhà.

Tôi nhìn những ngón tay như những đốt mía gầy guộc tìm chiếc nhẫn làm tin. Nhưng những ngón tay anh chỉ đeo đầy vết sẹo. Sao mà ngây ngô. Tôi mắng mình như thế. Xứ sở miếng ăn còn không có, nói gì chiếc nhẫn đính hôn giữa những kẻ yêu nhau.

Hay là bạn. Tôi hỏi.

Cái đầu toan lắc bỗng gật dồn dập như chiếc dùi gõ hoang lên mặt trống. Con mắt nhìn tôi. Cái nhìn lo âu của đứa bé ăn trộm sợ chủ nhà phát hiện thêm món đồ còn giấu trong cạp chiếc quần tây nhăn nhúm.

Tôi hỏi vì tôi muốn biết thêm chi tiết về cô ấy mà điều trị cho đúng. Rồi nhìn những ngón tay đang xoắn lấy nhau trước cái bụng hõm vào sát xương sống, tôi nói nhỏ, đủ cho một mình anh ta nghe. Tôi không phải công an, đừng sợ.

Dạ, tui mang ơn. Câu nói cũng nhỏ đủ để một mình tôi nghe thấy.

Anh đứng trơ ra đấy. Cái mặt cúi gằm, con mắt nhỏ. Tia nhìn lấp ló phía sau hốc mắt sâu. Vành xương ổ mắt cong và vồng lên như vết điêu khắc trên pho tượng thạch cao làm cho tia nhìn sâu hun hút.

Vào đây cho tôi hỏi thăm vài chuyện.

Hai bàn tay đặt lên nhau ngại ngần. Dạ.

Tôi xoay lưng bước đi. Được vài bước tôi quay lại. Người đàn ông vẫn đứng đó. Tôi dừng lại, nhướng mắt nhìn anh ta. Hai bàn tay vẫn đắp lên nhau. Những ngón sần sượng xoắn xuýt. Rồi cặp môi thâm co lại, vạch ra những chiếc răng khập khiễng.

Tôi đưa tay, vạch một cử chỉ mơ hồ. Vào phòng trực, tôi hỏi chút chuyện.

Hàm răng mở ra. Câu nói phều phào như hơi thở. Dẫu khoảng cách chỉ ba bước chân, tôi vẫn không nghe được cái câu anh nói. Tôi bước ngược về phía anh.

Đợi tôi đến gần, anh thì thào. Sợ em Thắm hổng chịu.

Tôi ngạc nhiên. Sao vậy.

Co người lại như cố giấu mình ở phía sau một thân cây vô hình, tránh luồng gió lạnh, anh nhìn quanh, nhớn nhác.

Sao lại sợ cô ấy không chịu. Mà không chịu cái gì.

Hổng cho gặp.

Tôi nhìn chăm chú vào con mắt sâu. Sao lại không cho.

Tại em Thắm hổng thương.

Bọn y tá y công trong trại bệnh tất tả với công việc nhưng chẳng người nào quên ném về phía chúng tôi cái nhìn soi mói. Cái tin bác sĩ trưởng khoa nội bị bệnh nhân xỉ vả giữa thanh thiên bạch nhật chỉ một buổi là lan rộng khắp thị xã. Nhân viên các trại bệnh tạt ngang phòng trực hỏi thăm xa gần. Những con mắt ái ngại giùm cái đời "làm ơn mắc oán" nhưng cũng có những ánh mắt xét nét, hả hê.

Tôi nắm lấy tay áo anh, kéo về phía phòng trực. Anh cưỡng lại một chút rồi nhùng nhằng bước theo, như đứa học trò hư bị giám thị lôi vào phòng hỏi tội.

Ngồi xuống đây đi. Tôi khẽ đẩy anh vào chiếc ghế có lưng dựa bằng nệm vải.

Dạ cho tui đứng, tui mang ơn.

Tôi nhìn vào con mắt sâu. Anh biết cô Thắm bị gì không.

Dạ biết, em Thắm tui uống thuốc tẩy tự sát. Mấy người học chung lớp đổ thừa em Thắm tui ăn trộm chiếc cà rá, em Thắm tui hổng có lấy. Tui biết em Thắm tui hổng bao giờ làm chuyện đó. Dù em Thắm tui không thương tui, bỏ tui lên tỉnh học nhưng tui hống giận em Thắm tui. Tui biết em Thắm tui hổng tham lam. Hổng ai tin em Thắm tui, em Thắm tui uống thuốc tẩy để minh oan. Em Thắm tui có bề gì tui sống với ai.

Cái mặt cúi gằm bỗng ngước lên, vẩy ra những giọng nước mắt.

Mà em Thắm tui có sao hông bác sỉ.

Anh ngừng lại để thở. Nước mắt lăn dài hai gò má. Hai bàn tay vẫn níu lấy nhau, mặc cho nước mắt khơi dòng. Tôi nhìn đám bệnh nhân và thân nhân hiếu kỳ lấp ló ngoài khung cửa, vẫy tay ra dấu cho họ để chúng tôi yên. Thiệt tình, cánh cửa phòng trực không biết đến bao giờ mới sửa xong.

Nhắm chừng em Thắm tui có sống được hông, bác sỉ.

Anh lặp bặp câu hỏi.

Sống chứ. Câu trả lời của tôi đầy ắp tự tin. Vấn đề là làm sao thuyết phục cho cô bệnh nhân ấy yêu được cuộc sống này, để mai mốt về, cô không phải tìm cách quyên sinh nào khác. Nhưng tôi không thể nói với anh điều đơn giản ấy.

Cô Thắm sẽ hết bệnh, sẽ về... Tôi ngưng ngang. Sẽ về đâu. Ngôi trường có nhà tập thể nơi người ta nghĩ cô là quân trộm cắp hay về với người thanh niên chất phác đến ngẩn ngơ này.

Dạ, tui mang ơn.

Câu nói và cái gật đầu nhanh nhảu của anh gỡ tôi ra khỏi cái điều khó nói.

Anh vừa đi khỏi, ma mới lách ngay vào phòng trực. Và ném xuống mặt bàn gỗ câu hỏi quen thuộc.

Nhắm chừng con nhỏ đó có sống không hả thày. 



5

Chiếc giường trĩu nặng. Không gian võng xuống cái mùi thân thể đã lâu không tắm gội. Tôi nói cho một mình tôi nghe. Tôi kể đủ thứ chuyện. Chiếc ghế có lưng tựa lung lay và bốn chân lỏng lẻo biết than van vì sức nặng kẻ ngồi lên nó. Tôi nhúc nhích để chiếc ghế nhắc nhở xa xôi với bệnh nhân rằng chuyện tôi kể sẽ không bao giờ có đoạn kết. Và tôi sẽ ngồi đây mỗi tối. Trong căn phòng này, nói chuyện với bốn bức tường, với những linh hồn lẩn khuất trong bệnh viện vẫn mỗi tối, trong cái chập choạng của buổi hoàng hôn, lũ lượt kéo nhau về qua chốn này. Tôi kể chuyện mẹ tôi. Tôi kể chuyện cha tôi. Tôi kể chuyện em gái tôi. Tôi kể chuyện nửa đêm tôi quýnh quáng lại nhà người bệnh. Con mắt đứa bé đã đứng tròng, chân tay co giật từng hồi. Muộn mất rồi. Nhưng người mẹ khóc lóc nài van. Chích cho cháu mũi thuốc hồi sinh. Hay thuốc gì cũng được. Miễn là có chích. Biết đâu cháu nó lại không chết. Mũi kim nhọn ánh lên dưới ánh đèn dầu trong đêm tối. Lần nào kể đến đó tôi cũng ngừng lại bởi tiếng thở rất đều cái nhịp bình yên của đứa bé say ngủ. Cô gái mười chín tuổi. Cô ngủ dễ như trẻ thơ.

Biết đâu cháu nó lại không chết. Mũi kim nhọn ánh lên dưới ánh đèn dầu trong đêm tăm tối.

Lần này kể đến đó tôi không ngưng vì hơi thở đều nhịp mà vì tiếng sụt sùi. Khuôn mặt mà tôi chỉ thấy được khi cô ngủ say đang áp sát vách tường. Mùi vôi khô chắc phải quyện vào hơi thở. Cô nhất quyết không thèm nhìn mặt cái kẻ đã giữ cô lại nơi chốn trầm luân. Và cô tịnh khẩu kể từ cái hôm đòi cắn lưỡi ngay trên chiếc giường này.

Nhưng sao tiếng khóc tấm tức ấy lại làm lòng tôi bình yên. 



6

Thày ăn mì hông thày. Ma mới hỏi và đứng yên chờ câu trả lời. Mình có ăn mì không. Tôi thầm hỏi tôi. Hay hủ tíu Mỹ Tho. Ma mới hỏi tiếp. Mình có ăn hủ tíu Mỹ Tho không. Tôi lại nghe tôi hỏi tôi như thế. Hay thày thích hủ tíu Nam Vang. Ma mới nhanh nhảu đổi qua món khác. Mình có thích hủ tíu Nam vang không. Tôi lại hỏi tôi. Hủ tíu Nam Vang thì có gì trong đó và khác hủ tíu Mỹ Tho chỗ nào. Tôi hoàn toàn không nhớ ra. Chắc chắn giống nhau ở những sợi hủ tíu trắng tinh. Thày. Con ma mới gằn giọng. Và tôi bắt đầu bực mình.

Cô đói thì đi ăn đi, tôi không đói.

Nhưng ma mới không chịu thua. Em mua về cho thày, thày khỏi mắc công đi. Từ trưa tới giờ thày chưa ăn gì mà.

Tôi vẫn dán mắt vào cuốn cẩm nang in đầy tiếng nước ngoài. Trên trang giấy bóng, những hình ảnh nhảy múa như đám nghệ sĩ non tay nghề cố dành chỗ đứng trên chiếc sân khấu hẹp.

Thì mua gì cũng được.

Hủ tíu Nam Vang hay hủ tíu Mỹ Tho hả thày.

Gì cũng được.

Hủ tiếu Mỹ Tho được không thày.

Khi muốn được chú ý, người ta dễ thành lố bịch. Tôi dùng tất cả sức lực đang có trên tay để gập cuốn sách lại thay cho một lời giận dữ. Nhưng khi ngước lên, bắt gặp đôi mắt có tia nhìn khẩn thiết, lòng tôi chùng xuống. Giọng tôi mềm oặt.

Mua giùm tôi tô cháo lòng.

Đôi mắt chợt tròn xoe. Vậy mà thày nói gì cũng được.

Cô xoay lưng dợm bước nhưng đôi chân bất ngờ sựng lại. Tóc lòa xòa trên trán. Tóc đùa cái lưng thon. Môi mỏng như miếng mứt dừa.

Nhắm chừng con nhỏ đó có sống được hông hả thày. 



7

Bằng ngôn ngữ không chủ từ, bằng câu kệ không đầu đuôi, tôi cố thuyết phục bệnh nhân rằng chết không phải là chọn lựa thích hợp, rằng đâu đó trên thế gian này vẫn còn một người yêu thương cô hơn yêu thương chính mình, rằng trong những thứ con người có được, không gì quý bằng mạng sống. Tôi nói cho một mình tôi nghe. Tôi kể chuyện mẹ tôi. Tôi kể chuyện cha tôi. Tôi kể chuyện em gái tôi. Tôi kể chuyện nửa đêm tôi quýnh quáng lại nhà người bệnh. Con mắt đứa bé đã đứng tròng, chân tay co giật từng hồi. Muộn lắm rồi. Nhưng người mẹ khóc lóc nài van. Chích cho cháu mũi thuốc hồi sinh. Hay thuốc gì cũng được. Miễn là có chích. Biết đâu cháu nó lại không chết. Mũi kim nhọn ánh lên dưới ánh đèn dầu trong đêm tăm tối. Vậy mà thằng bé lại sống, cô Thắm biết không. Bây giờ cô Thắm biết thằng bé ấy đang làm gì không. Nó học y tá. Nhà nó nghèo không vào trường y được nhưng nó nhất định làm y tá để cứu người. Cô gái vẫn nằm nghiêng quay mặt vào tường. Lạnh băng tượng gỗ. Đôi vai khẽ chuyển động như vật trôi bồng bềnh trên mặt sóng. Tôi thầm đếm nhịp thở bệnh nhân. Rất đều. Dấu hiệu nguy kịch đã qua. Thần kinh ổn định. Bao tử chắc xốn xang ít nhiều nhưng rồi cũng bình yên. Có lo là lo hai trái thận vất vả lọc ra những chất độc. Rồi chỉ cần thuyết phục cô một cách đơn giản rằng chả tội gì phải chết. Nhưng chỉ điều nhỏ nhoi ấy thôi cũng đã vô cùng khó khăn. Tôi nói chuyện với bốn bức tường vôi trắng. Tôi nói chuyện với lũ sóng bạc nhược dắt díu nhau trải lên bờ cát những vẩy bọt xám. Biển ở bên kia con phố le lói ánh đèn. Ngày xưa có thời tôi nghĩ sống hay chết cũng vậy thôi. Cái thời mới vào đại học. Cái thời suy tư triết lý trẻ con. Cuộc sống đầy những mâu thuẫn. Có bao nhiêu người cố bám lấy sự sống một cách vô vọng. Chiến tranh. Sự nghèo đói, bệnh tật. Nỗi đau đớn thể xác, sự khổ đau tâm hồn. Tôi nói dông dài như gã bán thuốc dạo trong gánh xiệc. Tôi nói với bốn bức tường. Tôi nói với những ngày còn đi học của tôi. Tôi nói với những người bệnh mà tôi đã bỏ cuộc trong trận giằng co với Thần Chết. Tôi quên là cô bệnh nhân của tôi mới mười chín tuổi, cái tuổi bắt đầu biết chọn mầu sơn móng tay cho đẹp mắt. Thì đã sao. Nếu cô ấy không nghe thì tôi nghe. Và bốn bức tường này cũng nghe. Cả những người đã chết trong căn phòng này mà linh hồn còn lẩn khuất quanh đây cũng nghe. Còn nữa, những nhân viên trực đêm đang lấp ló bên ngoài khung cửa, tai ép sát vách tường, lắng nghe tôi trò chuyện. Cuộc chiến đấu gay go. Chúng tôi mới chỉ thắng trận đánh thứ nhất. Chúng tôi mới chỉ đổ quân xuống được một đầu cầu. Nhưng tôi vẫn kiên trì kể lể. Tôi kể chuyện cho cả thế gian cùng nghe.

Chợt cô bệnh nhân của tôi trở mình, tôi nín thở chờ một cơn phẫn nộ. Tôi nghe được cả tiếng những trái tim đập lỡ nhịp ngoài khung cửa. Giầy dép lao xao dẵm lên nhau. Nhân viên trực đang săn tay áo, chuẩn bị giải cứu tôi. Nệm giường nhún nhẩy theo cái trở mình. Chiếc vai xuôi nghiêng. Bệnh nhân bỗng dưng xoay người ra phía tôi. Con mắt ướt nhòe. Con mắt nhìn tôi. Trong tia nhìn có chút gì đó như ánh nắng le lói sau cơn giông.

Con gặp người đó được hông?

Câu hỏi bất ngờ làm lồng ngực tôi thắt lại. Có tiếng reo vui hớn hở nào đó bị nén lại bên ngoài khung cửa. Tôi hình dung đám nhân viên ôm lấy nhau mừng rỡ như khi gặp lại nhịp đập hồi sinh của trái tim bệnh nhân hấp hối.

Người nào, cô Thắm muốn gặp người nào. Tôi lắp bắp.

Cái người học y tá đó.

Tiếng reo hò trong lòng tôi át cả tiếng cười nói vỡ òa ngoài khung cửa.

Thắng rồi, mình thắng rồi. Giọng ma mới - không lẫn được với ai - hòa với giọng đàn ông trầm đục.

Vậy là em Thắm tui chịu sống rồi.

Cô níu lấy bàn tay tôi. Những móng dài sắc cạnh cứa lên da thịt tôi như khắc ghi lời nguyền.

Con hổng muốn chớt đâu, con nhớ nhà, con nhớ má con, con nhớ ngoại con. Bác sĩ đừng bỏ con chớt tội nghiệp...

Không bỏ đâu. Tôi luống cuống với cơn xúc động.

Bác sỉ phải hứa hổng bỏ con.

Hứa. Tôi trả lời, lòng đầy ắp niềm tin. Cô nuốt nước bọt một cách khó khăn; nụ cười nhòe nhoẹt chợt méo xệch trên khuôn mặt trẻ thơ

Ngoéo tay mới tin. 



8

Ma mới đi rồi, tôi lại loay hoay với cuốn cẩm nang giấy láng chằng chịt những chữ. Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Ả Rập, tiếng Thụy Điển. Làm sao biết được đó là tiếng Ả Rập, lỡ tiếng Miên tiếng Lào thì sao nhỉ. Lúc khui cái máy ra khỏi thùng, bọn y tá đã cãi nhau những chuyện trẻ con như thế. Tiếng Miên tiếng Lèo ngoằn ngoèo giun sán còn tiếng Ả Rập có mẫu tự đàng hoàng, chữ tượng hình sang trọng quý phái. Làm như rành văn minh Ả Rập lắm vậy. Chứ sao. Ngôn ngữ của một phần tư nhân loại. Ngưòi chuyên viên phòng xét nghiệm gật gù. Người chuyên viên phòng thí nghiệm đã trải qua bao nhiêu thăng trầm. Anh ta kể lại như thế. Thử bao nhiêu nghề cuối cùng dừng lại ở nghề hút máu người. Cho dù hút qua mũi kim cũng là hút máu, cũng là ma dơi, ma cà rồng. Mấy cô y tá hay xúm vào chọc ghẹo anh ta như thế. Có mặt trong cuộc tranh luận ấy nhưng tôi chỉ lặng thinh. Không biết chắc có phải một phần tư nhân loại nói tiếng Ả Rập không nên tôi im lặng. Nhưng bà y tá ngoại khoa quay qua tôi để tìm đồng minh. Phải không ông thầy. Phải tiếng Ả Rập không. Đang loay hoay với những cái nút, những ngọn đèn xanh đỏ, tôi buộc lòng lật vội những trang giấy bóng. Đây rồi. Ở góc mỗi trang, có cái chữ nhỏ xíu ghi tên ngôn ngữ trình bày. Tôi dõng dạc gật đầu. Người chuyên viên phòng xét nghiệm hét lên mừng rỡ. Đám y tá trẻ thích thú hùa theo.

Cái máy ấy người ta còn giữ hay đã bán đi rồi.

Tiếng dép lê ngoài cửa. Tôi ngước lên, bắt gặp cái nhìn đắc thắng của gã đẹp trai. Trong bệnh viện này ngoài hai ông bác sĩ sắp về hưu, người nhân viên phòng quang tuyến, vài anh y công trong đó có người đàn ông bị ném cái ly lên đầu, chỉ còn lại tôi và gã chuyên viên xét nghiệm. Hai gã đàn ông độc thân. Hai con cọp bị nhét chung một xó rừng.

Ông thầy.

Vừa nghĩ đến là hắn hiện ngay trước mặt tôi như bóng ma. Như thể con người này vừa từ bậc thềm trí tưởng tượng tôi bước ra. Hắn đấy. Mảnh giấy phất phơ trong tay.

Kết quả thử máu con nhỏ đó có rồi.

Hôm nay hắn sơ mi nhét trong quần, tươm tất như cậu học trò. Ông thầy nghĩ con nhỏ ấy sống nổi không. Cái điệp khúc quen thuộc.

Tôi khẽ nhún vai, đưa tay đón lấy mảnh giấy kết quả xét nghiệm.

Kết quả coi bộ không êm hả ông. Gã trai lơ tiếp.

Tôi liếc những con số. Kết quả thế này thì không êm thật.

Phải mượn cái máy về gấp. Tôi kết luận. 



9

Cơn mê nhận chìm người bệnh vào đêm tối. Những con số nhảy múa trên tờ kết quả xét nghiệm. Những con số khốn nạn khiêu khích chúng tôi. Những con số trần truồng khiêu vũ trên mầu vũng mầu trắng bệch của làn da sũng nước. Lay gọi vô phương. Mới nói chuyện sáng nay, giờ đã mê man gỗ đá. Mới tíu tít kể cho nghe về những buổi chống ghe lùa bầy vịt hàng trăm con kêu réo vang động một góc trời đã con mắt lạc thần, ngón tay co quắp.

Tôi giộng mạnh cái ống nghe điện thoại như gõ cho rụng bớt bụi bặm đóng trong đầu những người quyền thế ở đầu dây kia.

Anh cần máy lọc thận làm gì. Kẻ nào đó lập lại cái câu cũ rích.

Tôi muốn hét vào mặt cái kẻ giằng co ở đầu kia nhưng cô học trò đứng ngay trước mặt tôi, hai tay chắp lại, van xin.

Bọn họ nói nhiều quá. Đủ thứ lý do. Tôi chỉ mượn lại cái máy ấy ít hôm. Phái đoàn y tế Thụy Điển qua thăm cho chúng tôi cái máy làm phép lạ ấy nhưng bọn họ lấy đi. Chúng tôi lý sự với nhau đủ cách. Rồi bọn họ lại hỏi tôi cần máy lọc thận làm gì. Tôi đã nói bệnh nhân của tôi suy thận cấp tính. Họ lại hỏi vì sao suy thận. Rồi kẻ nào đó nói vọng vào rằng có phải con bé uống thuốc tẩy mầu để tự tử đó không. Đáng đời quá rồi. Kẻ nào đó cười rộ lên thích thú. Có phải con bé chửi ông như tát nước vào mặt đó không. Chuỗi cười dài như những toa xe lửa chạy sầm sập trên đoạn đường sắt bắc ngang óc não tôi.

Cô y tá quơ tay ra dấu. Cái miệng thì thào. Môi mỏng như miếng mứt dừa ngày tết. Đầu lắc cuống cuồng. Đừng nổi nóng, ông thày ơi. Nổi nóng hư chuyện hết ráo trọi. Nhưng không nổi nóng sao được. Tôi đã làm đơn xin mượn cái máy làm phép lạ ấy ngay khi rửa ruột xong cho bệnh nhân.

Quân khốn nạn.

Răng tôi cắn chặt môi dưới. Thế nào cũng có máu bầm. Vết bầm trên môi đặm mầu như bị cắn khi được hôn.

Bảo nó ráng chờ tới tháng sau đi.

Kẻ kia nói thế rồi đập cái ống nghe xuống mặt bàn. Tai tôi điếc ù. Vậy là xong.

Tôi nhìn cái ống nghe điện thoại. Tôi căm thù cái điện thoại đen bóng này biết chừng nào. Tôi vừa mới thuyết phục được cho một người ham sống. Tôi vừa mới hứa sẽ không bỏ người ta. Mười chín tuổi, vừa mới bắt đầu yêu lại cuộc đời.

Cô y tá mỏng như trang giấy. Trang giấy nhìn tôi. Trang giấy sột soạt. Con mắt một mí long lanh ngấn nước. Cánh môi mấp máy cái điệp khúc xưa quá là xưa.

Nhắm chừng con nhỏ đó có chết hông hả thày?


31 tháng 07, 2008

http://hoangchinh.net



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
27 Tháng Mười Một 201512:00 SA(Xem: 1622)
Thưa ông, hôm nay tôi có mấy câu hỏi nhỏ gửi cho ông đây. Đó là tôi có đọc “Khói trắng thiên đường” của ông và thấy ông có ghi lại một vài đoạn thơ của ông. Tôi rất thích mấy đoạn thơ ngắn ấy. Vậy ông có thể vui lòng cho tôi biết:
05 Tháng Mười Một 201512:00 SA(Xem: 1943)
Hầu như mọi người đều nhận thấy tiểu thuyết hay truyên dài của ông thường dựa trên những dữ kiện thực. Phần hư cấu có rất ít. Vậy cá nhân ông đánh giá thế nào về những truyện hoàn toàn được xây dựng trên hư cấu?
06 Tháng Mười 201512:00 SA(Xem: 2222)
Tôi theo dõi gần như khá đầy đủ những tác phẩm ông đã xuất bản. Do đấy, tôi được biết ông từng gặp khó khăn với một vài tác phẩm của mình. Vậy thì đứng trước những khó khăn ấy ông đã có thái độ nào?
07 Tháng Tám 201512:00 SA(Xem: 2616)
ông sẽ nói đôi điều về tình ái với bạn đọc chứ? Nó xuất hiện, xoa dịu, chữa lành những bi kịch khác ra sao, nó có nhất thiết tồn tại trong một tác phẩm không, và liều lượng, vai trò của nó như thế nào góp vào thành công của tác phẩm
24 Tháng Bảy 201512:00 SA(Xem: 2567)
Có người cho rằng truyện ngắn là một mảnh của truyện dài ngắt ra. Ông có đồng ý với quan niệm này hay ông có quan niệm khác? Nếu ông có quan niệm khác thì xin ông trả lời rõ ràng cho tôi được hiểu.
09 Tháng Bảy 201512:00 SA(Xem: 2800)
Ông Du Tử Lê nói, ông là người rất giầu có về vốn sống. Từ đó tôi có 4 câu hỏi nhỏ mong ông trả lời đó là:
02 Tháng Bảy 201512:00 SA(Xem: 2329)
Tôi có mua và đã đọc cuốn “Khói trắng thiên đường” của ông. Câu hỏi của tôi là ông có thể cho tôi biết là có bao nhiêu phần trăm sự thật trong truyện này?
25 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 3164)
Nhà văn Đào Hiếu sinh tại Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Tốt nghiệp cử nhân văn chương, đại học Văn khoa Sài Gòn 1972. Sau năm 1975, ông công tác tại báo Tuổi Trẻ và nhà xuất bản Trẻ... Cùng gia đình, ông hiện sống tại Sài Gòn
24 Tháng Năm 201512:00 SA(Xem: 2644)
Thưa ông: Những đề tài đó có xuất phát từ những cảm nghiệm cá nhân của ông không? Nếu có thì chừng bao nhiêu phần trăm?
04 Tháng Năm 201512:00 SA(Xem: 2881)
Kim Loan : Thưa anh, theo tôi nghĩ, người viết phiếm như ông thì bất cứ lúc nào, đi đâu cũng lắng tai nghe, thâu nhận...để rồi về viết. Như thế đời sống lúc nào cũng lăm lăm dòm ngó mọi chuyện để viết, thế thì chán chết. Chẳng lúc nào mình sống thoải mái, phải không thưa anh?
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 95)
Tôi rất thích tính chân thật, không làm dáng của họ Nguyễn, khi ông mở đầu phần dẫn nhập cho những bài thơ của mình
(Xem: 159)
Tuyển tập này, cũng nên được nhìn như một ghi nhận tình bạn lấp lánh, thuở họ còn đủ ba người.
(Xem: 215)
Khởi thủy khi tìm về nhạc Việt, Elvis Phương chỉ biết một bài duy nhất là ca khúc”Mộng dưới hoa”, thơ Đinh Hùng, nhạc Phạm Đình Chương!!!
(Xem: 237)
Trong sinh hoạt âm nhạc tại miền nam VN, 20 năm (1954-1975) rất nhiều người biết tên tuổi nhạc sĩ Ngọc Chánh.
(Xem: 88)
Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.
(Xem: 11778)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1118)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 5833)
“Ngay sau khi gặp ông, tôi đã bước sang “chặng đường ngỡ ngàng.” Không ngỡ ngàng sao được khi mà đứng bên ông
(Xem: 1379)
DU TỬ LÊ cũng là một nhân vật đặc biệt. Nhỏ hơn họ Trịnh vài tuổi. Gốc gác Phủ Lý, Hà Nam. Sống ở Hà Nội, trước khi theo gia đình di cư vào Nam.
(Xem: 138)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 292)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20044)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 14927)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12445)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 15632)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 13750)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12217)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10244)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9523)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9615)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 8840)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8464)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9578)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 14863)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21133)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27031)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18502)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19617)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 23875)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21539)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 18000)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,840,117