THỤY KHUÊ - Paris, Người Việt Và Tranh Lê Tài Điển

06 Tháng Năm 201212:00 SA(Xem: 11899)
THỤY KHUÊ - Paris, Người Việt Và Tranh Lê Tài Điển

hoasiletaidien-content-content


Để tìm những ký hiệu ngôn ngữ gắn bó với con người, tôi thường hình dung những chữ phù hợp với phong cách nghệ thuật của một vài nghệ sĩ, ví dụ với Lê Thị Lựu là niềm âu yếm, dịu dàng; Vũ Cao Đàm là những mãnh liệt thầm kín; tranh Nguyễn Trung chứa đựng khát vọng dục tình... nhưng chưa bao giờ nghĩ đến một ký hiệu cho tranh Lê Tài Điển bởi hội họa của ông với tôi là bí mật, dù đã quen nhau rất lâu và cùng sống trên đất Pháp. Có một chữ gần ông nhất là ít : nói ít, viết ít, vẽ ít...

Ở người hoạ sĩ vẽ ít ấy, tranh Lê Tài Điển chia làm hai vùng : 

Một vùng dễ hiểu chứa đựng những màu sắc, đường nét tươi sáng, rất trừu tượng, trẻ trung, mạnh bạo, dứt khoát vươn lên như muốn phá vỡ bức thành cổ của phục hưng hay ấn tượng, để xây dựng họa hình mới, tác phẩm mở, vào muôn vàn ngõ rẽ khác biệt.

Những bức tranh trong sáng của ông còn rọi về tuổi trẻ của chúng tôi, lớp người sang Pháp thập niên 60-70, xuất dương du học hay tập nghề, một niềm tin vào "tương lai xán lạn".

Mầu xanh lơ trên bầu trời không gợn mây hay những mảnh lam biếc đầy hấp lực, biểu dương lý tưởng tự do, mà chúng tôi vừa tập tễnh tiếp xúc trên đường tha hương sách vở. Cái mầu xanh ấy, màu xanh mà ngày nay, bất cứ chính trị gia nào cũng dành làm "nền" cho các bài diễn văn của mình, thời ấy còn là hiếm. Những vạch sơn vững chãi đầy nam tính trên tranh ông, là sự tự tin, đôi khi thái quá, và cũng là niềm kiêu hãnh của một tuổi trẻ muốn chinh phục thế giới bên ngoài.

Đó là phần lạc quan, dễ hiểu, trong tranh Lê Tài Điển, phần họa hình ánh sáng.

Nhưng Lê Tài Điển còn một vùng tối. Phần sâu kín, âm u, bi quan, và bí mật.

Nụ cười xé hai của ông luôn luôn gợi cảm giác đớn đau, một thứ phũ phàng của định mệnh, một khối u trong tâm hồn, một bệnh chứng di căn không có cách gì lành trong con người. Người Việt.

khongde2__sondautrenbo100cmx100cm-content-contentÔng không dùng ký hiệu ngôn ngữ bình thường để giao tiếp. Tất cả dường như đã cất kỹ vào kho, khuất trong nội tạng, thỉnh thoảng hé ra một chút, loé lên trong ánh mắt, phẫn nộ như một tia lửa, bùng lên rồi biến mất, để lại cho người nhận chút hoài bão, sững sờ, tê dại.

Ở Lê Tài Điển là sự truyền chân cảm, rất ít, rất nhanh và thật vội, như sợ người ta biết được, nhận được và hiểu được bí mật của mình.

Bí mật ấy là một vũ trụ u ám, phải chú ý lắm mới có thể bắt gặp.

Trong một buổi triển lãm tranh ông tại Paris, đã khá lâu, tôi không còn nhớ rõ ngày tháng. Kỷ niệm mạnh nhất để lại cho người xem là những gam màu tối, vô thể, vô hình, chứa đựng những khối u, tan nát, vỡ vụn.

Dường như ông muốn vẽ cái đau đớn, cô độc của chính mình trong cuộc đời nghệ sĩ những đêm say lạc ngủ quên trên con tàu từ Paris ra ngoại ô, đến cuối đường lại quay trở lại.

Thân xác đi, ở, nhập, vào toa tầu những đêm đông lạnh và buồn ấy, đến sáng.

Còn tranh đã nhúng hồn và máu trong những con tầu say.

Tranh ông thể hiện con đường rầy ngoại ô Paris-Sartrouville, lạnh lội những đêm đông mưa dầm giá buốt, những căn nhà xiêu vẹo cạnh đường rầy đuổi nhau trên khung kính toa tầu, những mảnh đời nhờ nhờ đen như mầu da những người sống bên cạnh lộ.

Tranh ông ngoặc những nét sần sùi thô nhám trên những khung cửa lõm vào mình immeuble HLM (Habitation à loyer modéré - nhà cho thuê rẻ tiền) tối om và ẩm ướt, những gờ thang máy bẩn thỉu hỏng quanh năm, những cửa kính vỡ, toác hoác đón gió lùa, những bức tường bôi bác vết nhơ, những đứa trẻ bơ vơ, lạc, loạn trong xì ke ma tuý...

Tranh ông thể hiện chái sau những quán ăn Tàu, Việt, Paris khu mười ba, mười tám, những xưởng may quần áo lậu, hậu trường thiếu vệ sinh, thuê người trái phép, bóc lột nhân công, cả một hệ thống bí mật giấu trong những gói rác, đổ vội trong đêm khuya sau khi thực khách cuối cùng rời tiệm.

Tranh ông phản ảnh niềm tuyệt vọng ẩn trong những giấc mơ của người dân nhược tiểu, hăm hở đến kinh đô ánh sáng để tìm "tương lai tươi sáng", lại chỉ gặp được định mệnh đắng cay, tàn khốc.

Tranh ông thể hiện niềm tuyệt vọng chung của người nhập cư từ những nước nghèo tìm đến Paris, mong hưởng chút bơ thừa, sữa cặn, của một xã hội thừa ánh sáng, thiếu nhân tình.

Và cũng từ Paris, nẩy sinh niềm tuyệt vọng riêng của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, sự lưu lạc của một kẻ sống dưới ánh sáng, mà vẫn tưởng mình là bóng tối.

Ông vẽ những thất lạc của con người trong đêm, như con tàu, cứ lao đi, đi mãi, mà không biết dừng lại ở một chốn nào...

Sự lưu lạc của ông cũng là sự lưu lạc của chúng tôi, hậu duệ của bọn người đầu thai nhầm thế kỷ. Paris, dĩ nhiên huy hoàng và mỹ lệ, dưới vạn ánh đèn. Nhưng có mấy ai biết Paris còn là một vũ trụ đen sâu đầy cạm bẫy của bóng đêm và bất hạnh, của những thất bại không ngừng, của những thờ ơ và lãnh đạm, của những kỳ thị hoang vu, của những chuyện chẳng lành đến từ quê cũ, của những hổ thẹn của một dân tộc đội sổ về quyền làm người...

Paris càng sáng càng vui càng tự do bao nhiêu, thì lũ đầu thai nhầm thế kỷ chúng tôi càng cảm thấy lạc loài sinh nhầm tổ quốc, có lúc tự nhủ giá mình là người Lào, người Thái...

vukhucxan_sondautrenbo_100cmx150cm-content-contentTranh Lê Tài Điển nói lên được cái "trót lỡ" ấy, cái trót lỡ đầu thai nhầm thế kỷ ấy, mà chúng tôi phải gánh như cây thánh giá trên mình, đeo nó bước đi trong kinh thành ánh sáng, nơi mọi người hoan hỷ, chỉ riêng bọn chúng tôi héo hắt với thập tự trong tim, bởi bao nhiêu "thành công" nghề nghiệp cũng không xoá được nỗi bất lực toàn diện, bó tay, không thể rút độc tài ra khỏi guồng máy thống trị, rút tham nhũng ra khỏi dân mình, rút bất công ra khỏi số phận những đứa trẻ bụi đời trên khắp nẻo Sài Gòn Hà Nội, rút ê chề khỏi thân thể những cô gái bán mình sang Hồng Kông, Hàn Quốc...

Sống trên đất Pháp từ lâu, quá lâu, gần ba phần tư cuộc đời, đã là một nửa người Pháp, đã có thể trở thành người Pháp, nhưng tại sao nửa kia vẫn muốn, vẫn nhận, vẫn là người mình, mặc dầu khó ai biết rõ mình là ai, là người gì, ngoài tấm thẻ căn cước và tờ hộ tịch. Người ta bảo đó là người Pháp gốc Việt, người Mỹ gốc Việt, nhưng có ai rõ người là gì và gốc là gì? Điểm rõ nhất là sự xuất huyết nội tâm cả người lẫn gốc mỗi khi được tin về nước mình, từ thuở thuyền nhân vượt biển.

Ở những thuyền nhân sống sót đến Paris, lại một kỳ vọng mới cho tương lai. Bao nhiêu thế hệ đã qua, đến Pháp, hết lớp này lớp khác, mỗi lần đều mang một khát vọng mới: và nếu ai đó có thành công về kinh tế xã hội, cũng không khoả lấp được niềm tuyệt vọng của một dân tộc.

Một dân tộc không thiếu nhân tài, có nền văn hoá lâu đời, nhưng bao nhiêu thập niên đã trôi qua, không thể ngóc mình lên khỏi nấc thang chót về quyền làm người, cũng là nấc thang xác định nền văn minh của một nước. Đó là một cái nhục mà chúng tôi phải chịu, và chúng tôi có trách nhiệm.

Cái nhục ấy, chúng tôi, những kẻ đầu thai nhầm thế kỷ phải chịu trách nhiệm và mang trong người như một ung nhọt nội tâm, chưa có thuốc chữa và cũng không thể ngỏ cùng ai. Mà nói thế nào? Ngoài niềm tuyệt vọng dấu kín trong lòng, rồi một phút nào đó, bí mật trào qua nét bút.

Tranh Lê Tài Điển mang những nét bí mật như thế.

Một họa sĩ bảo: "Có những khuôn mặt dễ bắt, có những khuôn mặt khó bắt". Chữ bắt của ông thật tài tình, mà không chỉ với tranh, dường như với bất cứ loại hình nghệ thuật nào cũng vậy, đều có những đối tượng khó bắt và những đối tượng dễ bắt.

Lê Tài Điển là một khuôn mặt khó bắt. Khuôn mặt ở đây cũng là toàn bộ con người và nghệ thuật. Nhìn một bức tranh "tươi" của ông, với màu xanh hy vọng, sắc thắm, nhiều ánh sáng, đường nét dứt khoát không lưỡng lự, các gam màu ăn khớp trong mật độ hài hoà, vẫn thấy như có cái gì không ổn, "không đúng", chưa phải ông, chưa phải chúng tôi, không phải.

Trong tim của mắt, có sự từ chối những gì quá sáng, quá vui, nơi Lê Tài Điển. Ngược lại, chỉ khi nhìn những nét vá víu, ngượng nghịu, như quẹt vội, như bút ráp, những nét âm u, vô hình thức, chưa phải là hình, một thứ ánh sáng chưa thoát khỏi bóng đêm, một tương lai chưa đến đã vỡ, một kết hợp chưa thành đã vữa, đó mới thực là Lê Tài Điển.

Bởi tranh ông cũng là hiện thân cái mâu thuẫn, cái đen tối trong tâm hồn chúng tôi, những người Việt sống ở chốn này: ánh mắt nào cũng muốn lừ lên một chút phẫn nộ, uất ức cái gì đó, rồi lại dịu xuống chịu đựng, đợi chờ. Ai cũng muốn làm một cái gì đó cho đất nước, nhưng rồi vẫn ngồi trơ đó, bó tay, hoặc hồ hởi đi về, ngậm ân huệ mà nuốt trôi nhân cách.

Lê Tài Điển vẽ được cái bãi rác ấy trong tim chúng tôi. Vẽ được cái vùng phân tranh, bất phân thắng bại, nhưng không ai nhường ai, trong thâm tâm người Việt, đã có hoà bình gần một phần ba thế kỷ. Ông vẽ những đen tối cạnh tranh, của một cộng đồng chưa từng hội ngộ, chưa từng đoàn kết, nhưng đã lên ngôi những nghi ngờ, những đố kỵ, những đổ vỡ, những tàn tạ.

Paris, những ngày tuyết tháng 2/2012
Thụy Khuê

(Nguồn RFI)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Chín 20204:13 CH(Xem: 167)
Tôi quen Nghiêm-Thẩm từ 1978, khi tôi được mời vào làm việc trong nhóm ngữ-học của Thanh-Lãng nhân một hôm có cuộc hội-thảo về tài-liệu cổ.
14 Tháng Chín 20204:06 CH(Xem: 123)
Thế giới tiểu thuyết của Nhật Tiến là cánh cửa mở rộng chân trời để con người sống với hy vọng, sống xứng đáng với đồng loại và lịch sử!
25 Tháng Tám 20202:59 CH(Xem: 365)
Cuộc đời anh, anh sung sướng đã làm được hai điều lành: Một là ngăn cấm em viết potin chửi đời, hai là giữ được lòng trung thành với em từ sau ngày cưới.
22 Tháng Tám 20201:29 CH(Xem: 406)
Tam Ích đã tự kết thúc cuộc đời một cách đặc biệt ở trên căn gác của anh tại số 531/74 Phan Đình Phùng góc Nguyễn Thiện Thuật
19 Tháng Tám 20204:20 CH(Xem: 343)
Ngôi nhà 60 phố Nguyễn Hữu Huân cho đến nay đã có nhiều thay đổi, nhưng mặt ngoài hầu như vẫn như cũ.
09 Tháng Tám 202011:56 SA(Xem: 263)
Sách vở, báo chí miền Nam trở thành món ăn tinh thần là do công sức của các nhà văn, nhà phê bình, giáo sư đến các học giả.
09 Tháng Tám 202011:56 SA(Xem: 1695)
Có trong tay toàn bộ bản dịch “Chiến Tranh Và Hòa Bình”, với ông “Lá Bối” đã là một hạnh phúc.
27 Tháng Bảy 20205:27 CH(Xem: 368)
Sách hay nói đây chẳng những hay về văn chương tao nhã mà hay về ý tưởng thâm trầm.
23 Tháng Bảy 20205:04 CH(Xem: 425)
Gia đình tôi rời Sàigòn ngày 15 Tháng Tư, được xe buýt vàng của Mỹ
11 Tháng Bảy 202010:31 SA(Xem: 374)
Hiện tượng ca sĩ hát sai lời bài hát xảy ra càng lúc càng nhiều, ở trong nước cũng như hải ngoại.
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 7192)
Những người theo dõi sinh hoạt âm nhạc ở miền Nam Việt Nam vào giữa thập niên 1960...
(Xem: 2231)
Khi gặp Bùi Xuân Phái, thấy nhau, chúng tôi cùng bùi ngùi. Chúng tôi không nói được với nhau một lời nào!.! chỉ nhìn nhau. Mặc cho những giọt mắt già nua, hiếm hoi, lặng lẽ chảy…
(Xem: 15341)
dutule.com: Chúng tôi đăng lại, bài Du Tử Lê viết về bạn mình, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, như món quà muộn, mừng Sinh Nhật anh.
(Xem: 9569)
Nhìn lại toàn cảnh 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam
(Xem: 684)
Trần Thanh Hiệp ghi nhận rằng “lịch sử” thơ Tự Do ở Việt Nam, đã chào đời khoảng cuối thập niên 1920, đầu thập niên 1930.
(Xem: 8700)
Có dễ một triệu năm, hay một triệu năm lẽ, tôi gặp. Không phải dáng núi. Dáng núi vòi vọi cao, ngất ngưỡng, ảm đạm, nghiêm minh.
(Xem: 905)
Anh Lê, những gì anh đã cho em, đã thương em, tấm lòng đó còn mãi mãi.
(Xem: 336)
Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách. Tên sao người vậy. Anh đã sống và viết đến những giây phút cuối cùng.
(Xem: 1567)
Nói như Orchid Lâm Quỳnh, không có cái gọi là “better place” cho bố, vì bố đã rất ấm áp, bình an trong ngôi nhà đó. Thiên đàng ở đâu thì kệ nó chớ!
(Xem: 400)
Hôm 13-8-2016, Du Tử Lê từ Mỹ trở về Huế, xứ sở mà nhà thơ đã có dịp nhiều lần ghé đến trong hàng chục năm trước.
(Xem: 12015)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 1412)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 2470)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 2921)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 2827)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 22665)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 17145)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 14862)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 18140)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 16066)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 14643)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 12422)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 11412)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 11502)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 10739)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 10444)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 17216)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 24047)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 29038)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 20542)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 21912)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 25591)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 24467)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 20674)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
2,653,215