Hà Quang Minh, chân dung của những chân dung.

30 Tháng Tư 201312:00 SA(Xem: 5637)
Hà Quang Minh, chân dung của những chân dung.

Với tôi, Hà Quang Minh là một hảo thủ trẻ tuổi, hiếm hoi mà chúng ta có được, trong sân chơi văn học, nghệ thuật Việt hôm nay.

Sau nhiều năm quan sát, theo dõi nghệ thuật dẫn banh bay bướm của họ Hà, (dù ở bất cứ vị trí nào trên sân cỏ), tôi thấy tôi không thể không ghi nhận:
- Hà Quang Minh luôn tạo những tình thế bất ngờ; đưa tới những kết quả làm bàn, tung lưới ngoạn mục!

haquangminh-content
Hà Quang Minh

Tôi muốn nói, từ thi ca tới âm nhạc, từ tùy bút tới truyện ngắn, từ bình luận bóng đá trên màn ảnh nhỏ, tới những tản mạn văn học, xã hội…ở lãnh vực nào, Hà Quang Minh cũng xuất hiện như một chân dung ứng hợp, tương thích nhất. 

Vì thế, tôi không ngạc nhiên, nếu không muốn nói là hân hoan, khi được biết tác phẩm “Chân Dung” của Hà Quang Minh, viết về 30 tên tuổi, 30 tài năng của nền văn học, nghệ thuật Việt, trên dưới nửa thế kỷ qua. 

Tôi vẫn nghĩ, khi tạo ra con người, Thượng Đế đã cho mỗi sinh linh, một chỉ dấu nhận dạng. Để người này không thể hoàn toàn giống người kia. Từ phương diện thể chất đó, mỗi chúng ta có cho riêng mình một ID. Một thẻ nhận dạng!

Nhưng tới hôm nay và, muôn đời sau, dù khoa học tiến bộ tới đâu, nhân loại cũng sẽ không thể có một tiêu chí tổng quát để phân loại, lập bảng và, cấp thẻ nhận dạng / ID cho những tài năng văn học, nghệ thuật. Đó là một cõi-giới khác.

Cõi-giới của tâm hồn. Rung động. Trăn trở. Lao lung.
Cõi-giới của những tài hoa biệt lập. Những núi cao và, vực sâu.
Cõi-giới của sáng tạo. Bí nhiệm.
Nên, không phải bất cứ ai cũng có thể phác họa chân dung những tâm hồn, những tài hoa biệt lập. Hay, những núi cao, vực sâu đó.
Để nhập được cõi-giới của những sáng tạo bí nhiệm, hầu tự đó, lập bảng phân tích, chỉ dấu nhận dạng mỗi tài hoa, theo tôi, người viết phải có khả năng phân thân và, mức độ cảm thụ tương thích với đặc tính mỗi thổ-ngơi văn học, nghệ thuật (vốn khác biệt gay gắt, quyết liệt) ấy.

Một một buồng phổi bình thường, sẽ ngạt thở, trước hơi sương của trời, độ ẩm của đất, khi liều lĩnh dấn mình trong thổ-ngơi sáng tạo kia.
Một trái tim nhậy cảm, rung động ở mức độ bình thường, sẽ trụy tim, ngay tự những bước thứ nhất, thăm dò nguồn, mạch sáng tạo.
Bởi đấy là những những khơi mạch, những đào xới thân phận, những cật vấn tử / sinh, những đối đầu truy tìm bản thể giữa thượng đế và, con người…

Vì thế, theo tôi, chúng ta không có nhiều chân-dung-nhận-diện những-chân-dung.
Vì thế, (tôi lập lại), tôi không ngạc nhiên, nếu không muốn nói là hân hoan, khi được biết tác phẩm “Chân Dung” của Hà Quang Minh (một tác phẩm mang tính thử thách lớn), viết về 30 tên tuổi, 30 tài năng của nền văn học, nghệ thuật Việt, trên dưới nửa thế kỷ qua.
Và, cũng vì thế, tôi xin bạn đọc đừng quên họ Hà, là “chân dung” thứ 31 của tác phẩm này.
Nói cách khác, Hà Quang Minh chính là “chân dung” của những “chân dung” vậy.

Du Tử Lê
(Calif. May 2013)
 
 
 

* Sáng tác của Hà Quang Minh 

 
CỎ ĐÃ NGỦ RỒI. CÒN LẠI CHỈ XANH RÊU…
 
Sài gòn, ngày cuối năm, trời hôm nay không nắng. Mấy hôm trước Sài gòn se se, cái se se không lạ lẫm gì với những người thành phố. Tôi ngồi nhìn ngoài hiên, trời chuyển gió như thể sắp có mưa về. Vang lên trong tôi một giai điệu rất quen của “tiếng mưa bay bên hiên thật buồn*”, để rồi, từ trong cõi lặng im nhất của lòng mình, tôi nhớ về Sài gòn của 12 năm trước; nhớ về những gương mặt nào cũng của ngày tháng ấy, những ngày tháng mà chính những bài tình ca đã dắt chân tôi vào thành phố này. Và trong những bài tình ca ấy, phảng phất hình dáng một người, một nụ cười hiền, một vóc dáng cũng hiền lành mang tên Tuấn Khanh.12 năm trước, giữa Sài gòn mới mẻ, tôi còn chưa có nhiều bạn bè. Những ngày tháng trôi rất đồng dạng nhau thời đó nhiều khi chỉ là những nỗi ưu tư một mình, những cơn say vội vội khi bất chợt có vài người bạn cũ từ Hà nội vào Sài gòn chơi. Trong một đêm như thế, giữa quán café khuất vắng trên con đường Trần Quốc Thảo, tôi lần đầu nhìn thấy anh Khanh, chầm chậm bước vào quán, đứng bên quầy bar và nhoẻn miệng cười chào một người bạn cùng nhóm của tôi. Người bạn ấy, theo phép lịch sự, đã giới thiệu “đây là nhạc sỹ Tuấn Khanh” và tôi, từ vô thức, lại không nhớ đến những ca khúc của anh tôi vẫn thường nghe, mà nhớ đến chuyên mục “Nghe nói là” anh đang đứng mục viết cho một tờ báo thể thao. “Nghe nói là”, với chân dung Tuấn Khanh có cái tai rất to vẽ theo kiểu biếm họa, đã là chuyên mục tôi rất thích đọc khi ấy. Nó ngắn gọn, súc tích, chỉ chừng trăm chữ hơn, nhưng lại sâu sắc và khiến người ta phải suy nghĩ nhiều. Có thể nói tôi đã mua tờ báo đó vì chuyên mục của anh Khanh là chính bởi báo chí thể thao tôi chỉ yêu thích đúng một tờ duy nhất, một ấn phẩm hoàn toàn khác. Tuấn Khanh đã lướt ngang qua tôi lần đầu tiên như thế, rất nhanh nhưng không mờ; rất vội nhưng để lại ấn tượng sâu hơn từ nụ cười của anh; rất khẽ nhưng khiến tôi thực sự muốn gặp lại một ngày nào khác…
Tôi chẳng nhớ rõ cơ duyên nào để tôi tìm gặp lại anh nhưng hoàn cảnh thì tôi lại nhớ rất rõ. Đó là căn nhà của anh, căn nhà trên đường Trần Bình Trọng, một buổi tối bình thường mà tôi đến anh ngay sau khi vừa dứt việc làm ở sở. Tôi cầm trong tay ca khúc mới viết của mình để đưa anh xem. Bữa đó tôi còn nhớ như in cái cách anh Khanh đọc bản chép tay nguệch ngoạc của mình rồi cuối buổi anh đưa tôi chiếc máy tính xách tay của anh và nói “Anh không dùng nó nữa, anh cho Minh mượn, em cầm về sau này ghi lại những bài em sáng tác cả trên máy tính nữa. Khi nào có máy tính rồi thì trả anh cũng được”. Và anh dạy tôi xài phần mềm Encore để chép nhạc. Từ chiếc máy tính của anh Khanh, tôi đã viết rất nhiều và cho dù sau này tôi không còn dùng encore như ngày xưa thì tôi vẫn luôn nhớ đến nó, nhớ đến cái cách anh Khanh ân cần trao nó cho tôi, chiếc máy mà giờ này không biết đã lưu lạc về đâu nhưng nếu gặp lại ở đâu đó, tôi sẽ mua lại để làm kỷ niệm, kỷ niệm của một thời khốn khó, của ngày đầu tiên tôi cảm nhận được cái tình của một người anh giữa mảnh đất Sài gòn xa lạ…

Sau này, tôi và anh Khanh có nhiều dịp để gần gũi và tâm sự với nhau nhiều hơn dù hôm nay anh đã không còn như 12 năm trước nữa. Anh đã ít xuất hiện hơn, thậm chí nhiều lúc anh bỏ luôn điện thoại và gần như không ai có thể gọi anh được. Nhưng đôi khi anh bất thần xuất hiện, bất thần điện thoại hỏi thăm. Những lúc ấy, nhận được điện thoại của anh tôi mừng lắm. Cảm giác như đón một người quen đi xa mới trở về; như thấy lại được một gương mặt cố nhân nào từ ngàn trùng bỗng một đêm ghé ngang sẻ chia ly rượu. Tôi không bao giờ hỏi vì sao anh bỗng thoắt ẩn thoắt hiện như thế vì tôi tự cho là mình hiểu nguyên do. Chỉ cần gặp anh thôi, nghe tiếng cười của anh thôi, ngó cái cách anh ngước mắt lên nhìn, hơi nheo nheo mắt qua cặp kính cận dày cộp là vui rồi. Khi ấy, tôi vẫn thấy anh Khanh của ngày xưa, của một thời “áo còn xanh như đời*”; một thời của tình ca; một thời của ước vọng và một thời chưa lấm hồ nghi làm người…

Có nhiều lúc, chúng tôi ngồi lại với nhau, giữa những chiếu rượu vắng anh Khanh, chợt ai đó nhắc đến anh, tôi lại cồn cào nhớ những ca khúc của anh ngày đó. Và với bản tính vội vã, hồ đồ, cảm tính đầy rẫy của mình, tôi phải mở ngay những ca khúc ấy lên để nghe lại những thang âm ngày cũ. Rồi giữa đám chúng tôi, sẽ có người nói đến bài này, bài kia, người này, người kia đã từng hát. Nhưng tôi luôn giữ lại cảm nhận riêng nhất của mình, cảm nhận đã đeo bám tôi biết bao nhiêu năm nay rồi. Tôi thích nhiều bài của anh Khanh viết nhưng tôi vẫn luôn yêu nhất bài “Những giấc mơ dịu dàng” mà anh viết từ những ngày 17 tuổi. Đó là một bài hát luôn làm tôi rợn người vì sự tương phản nằm trong nó. Những câu hát như “bãi cỏ xanh êm đềm ta đã vui bao lần*” vừa mới khiến tôi hình dung ra những hình ảnh đẹp như một cuốn phim lãng mạn của tuổi mới lớn; khiến tôi trôi trong một không gian hồn nhiên, trong sáng đến tận cùng… đã bỗng nhiên trở nên xót xa kinh khủng khi dẫn dụ tôi đến những lời mà tôi tin là tâm sự rất thật của anh Khanh, dù năm viết nên chúng anh chưa đầy 20. Có ai nghĩ là bãi cỏ xanh dài như giấc mơ về một cuộc đời đẹp tuyệt kia bỗng nhiên trở thành “cho ta mơ trốn cuộc đời trần biết bao bàng hoàng”. Có gì hoang tàn trong lòng chàng trai Tuấn Khanh mới lớn kia mà khiến anh viết ra những câu “dã man” đến thế? Và trước đó, người ấy đã xin được mơ “dẫu chẳng trọn lần, hết xót xa”. Tôi sực nhớ đến ngày 24 tuổi, tôi đã viết một bài thơ mà mãi sau này, khi 32 tuổi tôi mới dám đặt tên là “Thơ viết cho tuổi 30”. Trong bài thơ đó tôi hình dung ra một ngày 30 tuổi, tôi đi mai táng chính tuổi xuân của mình. Tôi đã viết những dòng ấy trong trạng thái suy tư đến tận cùng ở Hà Nội nhưng so với giấc mơ kia của anh Khanh, những suy tư của tôi còn nhỏ bé quá. Tuổi của tôi khi viết bài thơ kia ít ra cũng đã có những chiêm nghiệm chín chắn nhất định. Còn tuổi của anh, 17 tuổi, người ta còn ngây thơ thế, còn hồn nhiên thế, còn nhiều khát khao thế, sao lại mơ trốn cuộc đời trần biết bao bàng hoàng??? Tôi chưa bao giờ dám hỏi anh Khanh câu hỏi đó; chưa một lần nhắc đến nó bởi lẽ một phần tôi tôn trọng suy tư riêng của anh và một phần lớn khác là tôi sợ hãi trong chính cái mê mệt những câu chữ ấy.

Anh Khanh bây giờ không viết tình ca nữa thì phải. Tôi lại lần nữa tự cho là mình biết nguyên do và thậm chí, tôi cho rằng tôi hiểu nguyên do. Nhưng tôi biết anh vẫn viết, thậm chí viết rất nhiều, với rất nhiều day dứt khác của một con người. Tôi đã nhìn thấy con người day dứt ấy của anh từ những năm trước, khi anh còn ngồi trên ghế giám khảo Sao Mai Điểm Hẹn, thời điểm mà anh viết bài “Nhắm mắt”, bài hát cũng làm tôi rợn người với những câu như “Nhắm mắt nghe ngoài kia đồng xanh ngát… Hấp hối như trần gian không còn tương lai”… dù cảm giác không mạnh mẽ như bài “Những giấc mơ dịu dàng” kia. Tôi nghĩ, anh phải thất vọng với đời sống đến tận cùng mới viết những câu như thế. Mà chính bài Nhắm mắt ấy anh đã nói rất rõ khi nhắc đến trái tim đã khô chai của mình. Tôi hiểu, anh gặp quá nhiều, anh đối diện quá nhiều, anh không thể nói được quá nhiều nên anh đành hát lên những lời nhắm mắt như thế. Như một lần anh nói với tôi về một gương mặt mà anh đã từng mất lòng tin vào nó, dù chính anh là người dắt nó đi những bước rất ban đầu. Gương mặt ấy không đối xử tệ với anh nhưng anh nhận ra cái sự thiếu chân thật của nó khi bước vào một cuộc sống khác. Làm sao không thể thất vọng được khi anh đã phải gặp biết bao gương mặt như thế, biết bao giả trá như thế. Anh như một người đi nhặt nhạnh lại sự tử tế còn sót lại đâu đó giữa cõi đời này để rồi lắm khi nhận ra ngay cả sự tử tế hiếm hoi mình nhặt được đó đôi khi chỉ là hàng giả.

Trời Sài gòn lúc này về chiều và bỗng ngoài hiên kia có nắng hửng lên. Không phải là tiếng mưa rơi bên hiên thật buồn như tôi mới hình dung đây. Thành phố này là thế, giống như đời sống này, chuyện đổi thay bất ngờ nào ai đoán trước được. Tôi chợt muốn gọi cho anh Khanh ngay lúc này, muốn gặp anh ngay tại đây, giữa căn phòng này, trong tiếng nhạc của chính anh. Không phải cuộc gặp đó vì điều tôi chưa bao giờ làm với anh là sẽ hỏi về những ưu tư bao nhiêu năm anh mỏi mòn đeo mang mà vì một lẽ khác. Tôi chỉ muốn nói với anh một điều duy nhất, trả lời câu hỏi duy nhất của anh mà anh đã cất lên năm 17 tuổi, câu hỏi “bãi cỏ xanh đâu rồi?*”. Với anh, với tôi, với nhiều người cùng một tâm thức, bãi cỏ xanh của hồn nhiên, của mộng mơ, của ngây thơ đã không còn nữa. Cỏ đã ngủ rồi, đã miên viễn vô cùng rồi không tái sinh lại nữa. Chỉ còn lại là xanh rêu thôi anh Khanh ơi, như cảm thức của anh ngày nào, cảm thức mà cũng gần 15 năm trước anh đã hát lên thành lời, cảm thức của một lần cúi xuống để thấy mình đã rêu phong từ bấy lâu nay, đã rêu phong vì cứ cố tin rằng cỏ ngoài kia còn xanh mượt mà, trải dài, như ảo tưởng….
*Chữ và ý mượn từ những ca từ của nhạc sỹ Tuấn Khanh
 
Sài Gòn Nov 2012 

 
LŨ RÊU, QUÊN, NÀO PHỦ LỐI GẠCH SON 
(Một sẻ chia cùng anh Hoài Sa; Đức Trí; em Sơn Thạch; Nguyễn Hữu và riêng dành cho chú Bảo Chấn)
 
Tôi uể oải trở mình trong căn phòng nhỏ. Tiếng máy lạnh rì rì không làm dịu đi được cơn khó ngủ mà chỉ khiến đêm càng đêm hơn. Đã 4 giờ sáng. Trận bóng đá ở mãi trời Âu, qua màn hình TV nhức mắt đã làm tôi khó ngủ ư? Cũng có thể. Hay là còn vì điều gì khác nữa khiến tôi không thể nhắm mắt lại lúc này? Thường thì những ám ảnh của ngày vẫn khiến người ta chậm lại bước chân vào giấc mộng mà đôi khi, vì lẽ chi chi đó, người ta vụt quên đi nỗi ám ảnh của ngày ấy…Và tôi chợt nhớ, còn một bức thư sớm nay nhận tôi chưa trả lời. Một bức thư dài, của Thạch. Chưa bao giờ Thạch gửi tôi bức thư nào dài như thế, sâu như thế. Tôi còn nợ Thạch một câu trả lời…Và tôi vùng dậy, chạy ngay đến bàn, để viết. Viết cho Thạch. Thạch không cần ở tôi một bức thư trả lời. Thạch cần điều khác từ tôi; bởi tôi như từ tâm; bởi tâm của Thạch và nhiều anh em khác nữa. “Anh đã viết về em; về anh Trí; anh Sa; về Đỗ Bảo mà em thấy tại sao anh lại chưa viết về chú Chấn. Chú ấy là thần tượng của tất cả; còn có thể nói là sư phụ của bọn em từ khi mới vào nghề. Thấy thương chú Chấn quá; thấy chú bị bất công và không được may mắn như nhiều thằng khốn trong cái nghề nhạc này”, Thạch đã viết những dòng như thế, buổi sáng. Tôi biết đó là khi nó tỉnh táo, nó không viết từ trong cơn say rượu mà ra. Và tôi nhớ, cũng một ngày chưa xa, trên trang cá nhân của Trí, anh đã từng đặt ra câu hỏi rằng “Ai là nhạc sỹ thần tượng của bạn? (câu hỏi chỉ dành riêng cho các nhạc sỹ và chỉ những thần tượng là nhạc sỹ trong nước thôi nhé)”. Trí thần tượng Phạm Duy và anh Quốc Dũng còn Hoài Sa thì thần tượng chú Chấn. Nhưng sâu thẳm trong lòng, Trí lúc nào cũng nhìn về chú Chấn như một tài hoa, nhiều kiến thức và cơ bản nhất, là một người tử tế… Thời buổi này, khi sự tử tế mỗi ngày mỗi hiếm, sự trá ngụy đạo đức mỗi ngày mỗi nhiều, tôi chợt hiểu, vì sao; nỗi nào; trong cơn dằn vặt rất sâu, Thạch lại muốn tôi phải viết về chú Chấn, một ước muốn mãnh liệt đến thế…

Thật ra, tôi gặp chú Chấn không nhiều nhưng mỗi lần gặp lại là một dịp được ngồi bên chú rất lâu. Tôi thích cái hồn hậu, dí dỏm, có nhiều phần nghịch ngợm đúng cái chất “nghịch ngầm” của “học trò qủy” trong chú. Nhưng chú đã không còn sự linh hoạt đó như ngày xưa nữa. Hay nói đúng hơn, chú đã giấu nó lại cho riêng, chỉ khi gặp những anh em, bạn bè thật thân, chú mới trở lại với con người của chú. Đôi mắt chú bây giờ buồn nhiều hơn; như co lại đến mức run rẩy vì sợ hãi. Tôi biết chú sợ điều gì ngoài kia và tôi sực nhớ đến những dòng mà Henry Miller đã viết trong cuốn The Time of the Assassins (Thời của những kẻ sát nhân) rằng “chúng ta, ngày mỗi ngày, dường như càng tiến sâu hơn vào lãnh địa của cái ác”. Dường như những dòng đó bây giờ là dành cho chú, cho một lớp bè bạn như chú, những người đã từng tận hiến; phụng sự những nốt nhạc đến hết mình để rồi lại bị ám toán bởi chính bằng những nốt nhạc ấy bởi chính những kẻ sát nhân trá ngụy đạo đức làm người. Buồn cho chú một phần thì buồn cho cả dòng chảy ngoài cuộc đời kia tới ngàn lần. Dòng chảy ấy đang thiếu những tiếng nói “chuyên gia” đúng nghĩa, những tiếng nói của những con người có đủ tầm; đủ sức thuyết phục công luận trên những vấn đề chuyên môn của mình chỉ bằng đúng một câu nhận định. Thế nên, trong sự hỗn độn của rất rất nhiều giả hình, dòng chảy ấy đã hoảng loạn và tiếp sức thêm cho những ám khí mang hình nốt nhạc. Để chú bây giờ ngồi lặng lẽ đó, không trách than gì, chỉ nói một câu “thời của mình qua rồi” trong sự xót lòng đến nhói từng phút giây của anh em chúng tôi mỗi khi nhắc đến chú. Nào có ai hiểu, chú vẫn viết đó thôi, những bản tình tuyệt đẹp, giữ riêng cho mình, như một chứng tích, như một khắc ghi lại có một thời; một đời người trong nhạc mà chú đã đi qua…

Tôi đã nhiều lần ngồi nghe chú kể chuyện đời mình, những câu chuyện vụn, ở nhiều thời điểm vụn nhưng khi ghép lại nó lại thành hình một đường chạy dài như một lối đi rõ rệt đấy mà mờ ảo nhiều lúc; bàng bạc đó mà mồn một đôi khi. Đó có thể là những tháng ngày Mậu Thân 1968, khi chú còn học ở trường Quốc Gia âm nhạc Huế, câu chuyện về chú, về một cô bạn học cùng khoa piano với chú và cái chết ở tuổi 17, câu chuyện về nỗi thất vọng; đau đớn đến tột cùng của ông giáo sư âm nhạc người Đức khi chứng kiến cô học trò yêu của mình ra đi và ngay lập tức ông lên máy bay trở vô Sài gòn để quay về Đức, vĩnh viễn không trở lại Việt nam, nơi ám ảnh xương da vẫn còn nguyên đó. Tôi đã rùng mình khi nghe chú kể lại chuyện buồn của thời đi học ấy, và bật nghĩ trong đầu rằng một ngày nào đó tôi sẽ viết nó thành một kịch bản phim, lấy tựa đề “Bản giao hưởng chết sớm”, đúng như cái bản giao hưởng về Việt nam mà ông thầy người Đức của chú đã viết, nhưng chưa một lần trình diễn và sẽ không bao giờ được trình diễn.Phải chăng, cuộc đời con người ta, như cuộc đời chú Chấn, nhiều khi bị ám sát đầy uẩn ức, không thể thổn thức, không một tiếng nấc trong khi thực tế mình vẫn còn tồn tại đó, vô hình, vô hồn. Quên. Lãng… Nhưng tôi và anh em xung quanh nào có thể nào quên như thế. Chúng tôi vẫn còn nhớ câu chuyện chú kể về anh Bảo Phúc, giọng chú lúc ấy như chùng hẳn lại. “Mình đặt bàn thờ Phúc ở nhà. Anh có thờ em bao giờ đâu? Nhưng mình đặt đó vì mình vẫn nghĩ Phúc nó còn sống đó. Đôi khi, mình lên ngủ ở cái phòng thờ đó, nhìn nó, như thể hai anh em vẫn còn đang trò chuyện”. Chúng tôi đã không khóc khi nghe chú nói thế nhưng thực tế là không thể khóc được nổi nữa. Chúng tôi không muốn chú thấy hình của những dòng nước mắt ấy khác đi, và hơn tất cả, chúng tôi muốn được nghe chú Chấn cười đùa tếu táo, đó mới đúng là chú Chấn của tất cả, chú Chấn thực nhất, chân nhất và vẹn nhất…

Đã biết bao nhiêu lớp nhạc sỹ trẻ sau này (mà thật ra không còn trẻ nữa) đã từng được chú dẫn dắt vào nghề từ khi mới đi những bước đầu tiên, y như anh Sa dẫn dắt thằng Hoàng, thằng Hữu hôm nay đó thôi. Chú như con đường lót những lớp gạch son cho bọn trẻ đặt chân lên, hồn hậu, đam mê và cũng tận hiến phụng sự từng nốt nhạc. Rồi một ngày kia, tất cả nhận thấy đâu đó có loài rêu xanh đã phủ đầy lên lối gạch son ấy, phủ lên như muốn khuất lấp đi; muốn xoá sạch đi màu gạch son trên đó. Với loài rêu ấy, màu gạch son được coi là đã cũ và chúng muốn màu xanh rêu của chúng lên ngôi. Nhưng chúng tôi không bao giờ thấy đó là màu gạch son cũ kỹ. Vẫn là màu gạch của chú Chấn những năm xưa, 1968; những năm đã qua, một-chín-chín-mấy; những năm mà chú tạo cảm hứng cho một lớp trẻ hăm hở bước vào con đường của những ô kẻ; những khóa Sol; những khoá Fa; những dấu lặng nằm nghiêng; những đường sổ trường canh nằm dọc; những nốt tròn lay láy; những nốt móc đơn-móc kép vụng về… Con đường ấy lũ trẻ chưa từng hình dung chúng sẽ đặt chân lên mà chúng chỉ dám đứng xa chiêm ngưỡng như một thú vui của ham mê mà thôi. Nhưng rồi chú, và lớp người của chú, không lời thôi, đã cho chúng biết đó là đường đi của đời; của nghề; của nghiệp; của mưu sinh đấy nhưng cũng là của công danh đấy. Con đường đó, chúng tôi gọi là con đường lót lớp gạch son, mà hôm nay, chúng tôi vẫn cố nhìn từng viên gạch cũ, là chú, là bạn bè chú: là Bảo Chấn; là Bảo Phúc; là Quốc Dũng… để thận trọng đặt chân lên mà đi tiếp, đi mải miết bất chấp ngoài kia, nhiều người ào lên những chỗ lũ rêu cố phủ lấp con đường mà không biết rằng đường rêu trơn, không chỗ níu tay, nhiều khi, trượt-ngã… 
 
Sài Gòn March 2013
 
 
 
CHO NỖI BUỒN, CÔ ĐƠN, GỌI TÊN THÀNH HẠNH PHÚC…
 
“Hạnh phúc”, hai nốt ấy vang lên bất ngờ trong tĩnh lặng, bằng một giọng hát đẹp của Trọng Bắc, ở một âm vực tròn; gọn nhưng mở rộng; ấm nhưng gai người; sâu nhưng ôm trọn lấy người nghe đối diện nó… đã khiến tôi khẽ rùng mình trong căn phòng nhỏ của mình. Dưới ánh đèn vàng dịu dịu, tôi nhìn sang Trí. Anh ngồi đó. Lặng. Khoan khoái. Sững lại. Bất động. Tôi không thốt ra được lời nào và để bài hát cũ ấy trôi đi. Chầm chậm. Mướt mát. Òa vỡ đôi khi. Và chỉ đến khi thanh âm ngừng hết lại, chỉ còn tiếng lạo xạo của chiếc kim máy đĩa chạy trên những vòng tròn đen vinyl, tôi mới có thể quay sang anh, lần nữa.“Vẫn biết Bắc nó hát hay mà em không ngờ nó có thể hát bài này hay đến thế”. “Khi anh chọn key cho bài này, Bắc nó cũng không ngờ nó có thể hát được ở key đó”, Trí cười sảng khoái, “và anh biết, ở quãng giọng này, Bắc sẽ hát bài này đẹp nhất”.Tôi hiểu câu trả lời ấy của Trí. Nó là sự thỏa mãn vô cùng của một người sản xuất âm nhạc khi đã khám phá ra được một điều gì đó khác, ở một lãnh địa đã rất cũ đối với quá nhiều người. Và trong một phút chững lòng mình lại, tôi nhẹ nhàng hỏi anh “Chú nghe chưa anh?”.

Câu hỏi đó lặp lại ở một đêm sau; khác, khi không chỉ có tôi và Trí cùng ngồi nghe lại album Lặng lẽ tiếng dương cầm mà anh bắt tay vào sản xuất suốt thời gian qua. Chúng tôi vẫn có thói quen như thế. Trước khi ra mắt một sản phẩm nào, chúng tôi hay ngồi nghe cùng nhau vài lần, ở cả nhà tôi lẫn trong phòng nghe nhạc trên căn hộ của Trí. Không phải nghe để thẩm định lại điều gì cả mà là nghe ở tâm thức của những người khán giả, như muôn ngàn người nghe bình thường; với tất cả những thứ đi kèm bình thường với những thanh âm ấy như một chai rượu nhỏ; một điếu cigar thơm; dăm ba người bạn hiền lành, đồng cảm…“Chú vẫn chỉ được nghe qua một cái CD anh chép cho chú. Chú không có máy nghe đĩa vinyl em ạ”, Trí khẽ nói. Và anh nhìn tôi, mắt chợt sáng lên “Mai chú Minh đăng cai địa điểm nhé. Anh sẽ góp vài chai vang ngon. Mình đón chú lên nghe”.Cuộc hẹn đã khởi đi ngẫu hứng như thế, trong một đêm như thế…

Chú bước chân vào căn phòng của tôi, lần đầu tiên, vẫn đúng như những gì tôi từng hình dung và nhìn thấy ở chú. Một đêm ngồi lại cùng nhau chỉ để nghe đĩa nhạc mới với chúng tôi vốn dĩ cũng chỉ là một đêm bình thường, xuề xoà và có thể nhiều khi là bỗ bã. Suy cho cùng, nó chỉ là một đêm vui chơi đầu tuần, khi anh em đều rảnh rang cả. Nhưng chú vẫn đóng bộ vest nghiêm chỉnh, mang cà vạt đàng hoàng và chẳng ai trong chúng tôi nghĩ rằng đó là một nghệ sỹ. Nhìn chú giống như một nhà giáo thì đúng hơn, với sự mô phạm, nghiêm cẩn trong từng hành động nhỏ. Thật ra, tôi cũng đã quen với hình ảnh đó của chú từ lâu rồi nhưng tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng khi nhìn thấy chú trong bộ dạng ấy. Và hỏi “ủa chú mới đi làm về sao chú?” để rồi nhận được câu trả lời trong nụ cười hiền “đâu có, chú từ nhà tới. Trí qua rước chú mà con”… Để rồi lại tự mình nhủ mình “ừ nhỉ, chú là như thế. Vì chú là chú Nguyễn Ánh 9 mà”…

Tôi còn nhớ mấy năm trước, sau một đêm say thật say, sau một đêm chém gió lề đường thật phần phật, cái cổ họng đã khản đặc của tôi bỗng nhận một nhiệm vụ bất ngờ từ người anh thân, đạo diễn Lưu Huỳnh. “Em chạy qua đây giúp anh một việc nhé”, anh Lưu đã huy động tôi như thế, trong một sáng Chủ nhật biếng lười. Hóa ra, anh nhận lời làm một đoạn tư liệu về chú Nguyễn Ánh 9 cho trung tâm Thúy Nga và anh muốn tôi viết lời bình cho đoạn tư liệu đó. Rồi viết xong, viết khi mà tôi chưa từng một lần gặp chú, anh kêu tôi vô studio đọc lời bình luôn. Những tưởng đó chỉ là ví dụ để sau này trung tâm Thúy Nga dựng lại, chọn giọng một ai đó đọc thay nhưng tôi đã lầm. Họ tôn trọng, và giữ nguyên phần đọc lời bình ấy của tôi, với cái giọng khảo khào như người hút thuốc lào mất ngủ. Những gì tôi viết ngày đó, những gì tôi đọc ngày đó hoàn toàn chỉ là những hình dung rỗng không; cảm tính; chủ quan và áp đặt của mình về chú. Nhưng không ngờ, sau này, trong lần đầu gặp chú, chú đã nói với tôi rằng “những gì con viết trong cuốn tư liệu đó, chú rất thích và nó không sai lệch đâu con’.

Cái duyên giữa tôi và chú đã bắt đầu như vậy, kéo theo nó là những lần gặp chẳng thể gọi tên. Nhưng tôi khó có thể quên 2 lần tái ngộ để lại nhiều trăn trở trong tôi sau đó. Một lần, ngẫu nhiên đưa bạn từ Hà nội đi café nghe nhạc, ở Phú nhuận, trong một cái quán mang tên Nghê Thường, nơi chú vẫn chơi piano hằng đêm. Gặp chú, và trò chuyện, và biết rằng chú cùng bè bạn đứng ra làm Nghê Thường với sự trợ giúp của một vài người là bởi chú còn Thương Nghề. Cái nghề với những phím trắng đen; với những hợp âm và những nốt bán cung đã mang lại cho chú được những gì sau cả mấy chục năm dai dẳng đeo đuổi? Vậy mà chú vẫn thương nghề, một tình thương của tận hiến, một tình thương không hề tính toán, một tình thương không bao giờ cảm thấy xót phận mình. Và một lần khác, ở quầy bar của khách sạn Sofitel, khi tôi và Trí ngồi với khách của mình và ngẫu nhiên gặp chú bước vào, lặng lẽ. Chú cười với chúng tôi nhưng không lại gần. Chú đi làm. Chú lại với cây dương cầm của chú. Tôi đã không biết nói gì lúc đó cùng Trí khi cách chỗ chúng tôi không xa, khi chúng tôi đang nâng ly và bàn luận về những dự định tốt đẹp hơn trong tương lai, thì người nghệ sỹ già đã từng một phần khiến chúng tôi yêu thêm âm nhạc nhờ vào những thang âm của ông lại đang ngồi đó, đệm đàn cho chúng tôi uống rượu. Tôi thấy mình như có lỗi với chú. Tại sao chúng tôi không chọn một nơi khác, một nơi thuộc về những âm thanh khác.

Lúc này, chú ngồi đó, dựa vào chiếc ghế sofa nhà tôi, bên cạnh chiếc piano và tấm bìa đĩa Lặng lẽ tiếng dương cầm. Chú mừng lắm, chú nói với Trí rằng chưa bao giờ chú có một sinh nhật vui như tuổi này, khi những sáng tác của chú nằm trong một tuyển lựa lại mà Trí đã cất công sản xuất để kịp ra mắt vào mùa Phục sinh. Tấm đĩa vinyl mang tính hoài cổ của hôm nay có lẽ gợi nhắc nhiều đến những đĩa nhạc chú từng góp phần từ những ngày đầu tiên thương nghề. Chú lặng lẽ, đôi mắt nhìn đâu đó rất xa qua cặp kính trắng đã hơi mờ. Dáng ngồi nhỏ bé nhưng chứa chất tất cả những nỗi niềm nào? Phải chăng nó là nỗi buồn mà chú đã vẫy tay đón chào, nỗi buồn khác hẳn với những gì tôi đã hình dung nó từ lăng kính của Francois Sagan? Phải chăng nó là niềm “hạnh phúc như đôi chim quyên đậu cành lá thắm” bỗng chốc vụt bay trong phút không ngờ? Tôi không hiểu nổi. Tôi không lý giải nổi. Nhưng tôi đã nhìn thấy từ trong dáng ngồi ấy chàng trai trẻ Nguyễn Ánh 9 ngày nào hăm hở vào tình; cậu bé thơ Nguyễn Ánh 9 ngày nào ngồi một mình trước biển ở Nha Trang và chàng thiếu niên Nguyễn Ánh 9 ngày nào lặng lẽ ngồi bên cây dương cầm giữa chiều lạnh mờ sương Đà Lạt. Thời cuộc đã nhào nặn tất cả những hình ảnh đó trở thành chú của ngày hôm nay, lầm lũi; nhẹ nhàng và lúc nào cũng nở một nụ cười rất hiền như tạ ơn cuộc đời đã cho mình được yêu; được buồn; được cô đơn cùng những nốt nhạc...
Chú nhìn vào bản chép tay bài “Quê Xa” mà Trí viết tặng tôi và nói “chú bây giờ cũng vẫn viết tay”. Và điều đó khiến tôi sực nhớ tới những người hiếm hoi còn viết tay Thtừng bản nhạc của mình trong thời đại máy tính có thể giúp người ta ghi lại một văn bản thật rõ ràng và sạch đẹp. Ừ nhỉ, dù sao, dù thế nào đi nữa, chú vẫn còn viết tay, còn nâng niu từng nốt nhạc như những tài sản trân qúy nhất của đời mình mà nhờ vào một ân điển nào đó, cuộc đời chú đã được hội ngộ chúng. Sự nâng niu ấy, chúng tôi đã lần lượt bỏ qua, như sự từ khước một lần được minh định chính mình trong con đường mình đang đi, con đường mình đã chọn. Chúng tôi không thể thoát khỏi ra những vùng tiện lợi của chính mình thì làm sao chúng tôi có thể có được cảm nhận như chú, cảm nhận đi qua tất cả, đi qua những nỗi buồn-niềm vui; những đầm ấm-cô đơn; những ngây thơ-ngờ vực; những hân hoan-xót xa; những ồn ào-lặng lẽ; những bùng nổ-cam chịu… để rồi cuối cùng vẫn gọi tên cả một mớ hỗn độn trộn lẫn hết cùng nhau kia bằng một cái tên:HẠNH PHÚC… 

Sài Gòn April 2013 On Apr 30, 2013, at 2:36 AM
(Trích từ tác phẩm "Chân Dung", sắp phát hành.) 



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
17 Tháng Chín 20189:17 SA(Xem: 77)
Nhiều người nói, Trịnh Công Sơn không phải là người đầu tiên gieo cầu nhắm vào Thanh Thúy.
29 Tháng Tám 20189:05 SA(Xem: 324)
Rất nhiều người vẫn còn nhớ 4 câu thơ tuyệt tác của nhà thơ Hoàng Trúc Ly, viết tặng Thanh Thúy
21 Tháng Tám 20189:39 SA(Xem: 1143)
màu vàng rực rỡ của dã-quỳ đã dắt tay tôi trở lại Pleiku
08 Tháng Tám 201812:01 CH(Xem: 315)
Hiện cư ngụ tại Âu Châu, đang là ứng viên tiến sĩ văn chương của đại học Lancaster, Anh Quốc
25 Tháng Bảy 20189:08 SA(Xem: 378)
Thành công cả về vật chất lẫn tinh thần của đại nhạc hội chủ đề “Chút tình trao nhau” vào dịp Tết năm 1996
25 Tháng Bảy 20189:08 SA(Xem: 206)
Thành công cả về vật chất lẫn tinh thần của đại nhạc hội chủ đề “Chút tình trao nhau” vào dịp Tết năm 1996
25 Tháng Bảy 20189:08 SA(Xem: 163)
Thành công cả về vật chất lẫn tinh thần của đại nhạc hội chủ đề “Chút tình trao nhau” vào dịp Tết năm 1996
18 Tháng Bảy 201810:16 SA(Xem: 387)
Trần Quốc Bảo đã rất sớm, có trong máu huyết cái tinh thần ghi công và, bày tỏ cụ thể lòng biết ơn những văn nghệ sĩ
11 Tháng Bảy 20183:49 CH(Xem: 407)
Bây giờ, trại đảo buồn chỉ còn trong trí nhớ rụng rơi, mờ nhạt…
03 Tháng Bảy 20183:13 CH(Xem: 397)
Dường như thảm kịch đất nước, lẽ sống / chết đã khiến Trần có một trái tim lớn hơn tuổi thật của mình, rất nhiều.
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 77)
Nhiều người nói, Trịnh Công Sơn không phải là người đầu tiên gieo cầu nhắm vào Thanh Thúy.
(Xem: 324)
Rất nhiều người vẫn còn nhớ 4 câu thơ tuyệt tác của nhà thơ Hoàng Trúc Ly, viết tặng Thanh Thúy
(Xem: 1143)
màu vàng rực rỡ của dã-quỳ đã dắt tay tôi trở lại Pleiku
(Xem: 315)
Hiện cư ngụ tại Âu Châu, đang là ứng viên tiến sĩ văn chương của đại học Lancaster, Anh Quốc
(Xem: 378)
Thành công cả về vật chất lẫn tinh thần của đại nhạc hội chủ đề “Chút tình trao nhau” vào dịp Tết năm 1996
(Xem: 5175)
Du Tử Lê nói ông chỉ muốn im lặng. Trong phần hỏi-đáp rất ngắn dưới đây, nhà thơ Du Tử Lê có giải thích về sự im lặng của ông, với nhiều ngụ ý.
(Xem: 536)
Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.
(Xem: 11972)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1396)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 6084)
“Ngay sau khi gặp ông, tôi đã bước sang “chặng đường ngỡ ngàng.” Không ngỡ ngàng sao được khi mà đứng bên ông
(Xem: 334)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 423)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20247)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 15092)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12628)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 15870)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 13943)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12412)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10413)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9652)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9788)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 8988)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8584)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9769)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 15005)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21385)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27199)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18675)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19782)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 24011)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21710)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 18138)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,927,367