NG. TUYỀN - Ký Ức Về Ba Tôi

28 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 5861)
NG. TUYỀN - Ký Ức Về Ba Tôi

Năm tôi lên 7 tuổi thì ba tôi bị Pháp bắt, giam ở Sở Liêm Phóng Hà Nội. Hôm đó tôi đang bệnh nặng, sốt li bì, nhưng nhờ vậy lại sung sướng được hưởng sự săn sóc ân cần của mẹ tôi. Mẹ tôi thường dành sự chăm sóc cho hai em nhỏ hơn, nhất là em trai tôi “Con của Mẹ”. Còn tôi, tôi lại hãnh diện được mọi người trong nhà gọi là “Con của Ba”. Có lẽ vì tôi là con gái đầu lòng, nên ba tôi hơi “cưng” hơn một chút chăng?

hoangdao-content
Nhà văn Hoàng Đạo

Tôi ngạc nhiên khi thấy mẹ tôi nằm lăn ra trên giường bên cạnh giường tôi, và khóc thật thảm thiết, chưa bao giờ mẹ tôi khóc nhiều như vậy. Bà quên cả cho tôi uống thuốc. Mãi sau trong ngày nghe người lớn nói chuyện, tôi mới biết Pháp đã bắt ba tôi ngay tại phòng khách dưới nhà. Tuy còn nhỏ, tôi cũng ý thức được tầm quan trọng của tai họa này cho gia đình, qua những phiền muộn lo âu và khóc lóc của mẹ. Nhất là khi nhận được tin ba bị tra tấn, bằng điện. Sau một thời gian giam cầm, Pháp gửi một số nhà Ái Quốc Cách Mạng, các đồng chí của ba tôi và ông đến “trại an trí” tại Vụ Bản, Hòa Bình. Tôi chỉ nhớ có Họa sĩ Nguyễn Gia Trí, nhà văn Khái Hưng và ba tôi.

Khoảng 4, 5 giờ sáng hôm đó, hai em tôi và tôi đã bị mẹ tôi dựng dậy để ra ga tiễn ba. Sau khi cả gia đình trút xuống từ một chiếc xe kéo, tôi đã thấy bên kia hàng rào kẽm gai là ba tôi và các bạn của ông. Ngực đeo số tù, ông trông gầy đi. Nhưng ở cặp mắt sâu và sáng lại xuất hiện một niềm vui – có lẽ vì được gặp lại chúng tôi, dù chỉ qua hàng rào kẽm gai – và một đôi chút riễu cợt nữa, trong ánh mắt. Tôi cảm thấy an tâm. Ba vẫn không sao cả. Ba vẫn vui vẻ, khỏe mạnh, và tinh thần vẫn vững vàng, và vô cùng bình tĩnh. “Ba kìa! Vẫy ba đi các con.” Mẹ tôi bảo. Tôi ao ước giá chi được chạy đến ôm hôn ông, hay lại gần ông hơn chút nữa. Nhưng không được. Tôi đưa tay lên vẫy. Ba cũng vẫy lại chúng tôi. Rồi họ lùa ba tôi và các bạn ông đi.

Những ngày tháng sau đó, tôi và các em thay phiên được mẹ tôi đưa lên Vụ Bản thăm ông. Ba tôi phải làm một số công tác lao động, như vào rừng đốn củi… Dù sao thì cũng dễ chịu hơn những ngày bị giam ở Sở Liêm Phóng. Vào rừng có lính canh, tuy nhiên việc canh chừng này không nghiêm nhặt lắm. Tôi nghe mẹ nói sau này nếu bị giữ lâu hơn, ông sẽ tìm cách trốn đi, nhưng rồi sau hai năm, ông được trở về với gia đình và quản thúc tại Hà Nội. Đó là năm 1943.

Bình tĩnh, đó là điểm nổi bật ở ba tôi. Ông dường như không bị chi phối bởi hoàn cảnh, chưa bao giờ tôi thấy ông nóng nẩy, hay bồn chồn lo lắng. Hay vì tôi không được sống gần ông nhiều, hoặc ông đã từ giã cõi đời này quá sớm, nên tôi chưa có dịp chứng kiến điều đó?

Hồi Nhật oanh tạc Việt Nam, gia đình tôi có một chiếc xe hơi nhỏ và cũ, ba tôi thường dùng để đưa gia đình di tản từ Hà Nội vào làng Bưởi cách đó không xa, nơi bà ngoại tôi có một cái trại nhỏ. Sau này cả gia đình vào ở hẳn đó một thời gian, nhưng lúc đầu thì chỉ khi còi báo động hú lên, ba tôi mới lái xe chở gia đình đi Bưởi. Có một lần, xe mới ra tới ngoại ô Hà Nội, máy bay Nhật đã tới bắt đầu oanh tạc. Xe phải ngừng bên lề đừng. Bế đứa em nhỏ nhất của tôi, ông ra lệnh cho tôi và Ánh, người em kế xuống nằm dưới ruộng lúa. Thấy ông bình tĩnh, chúng tôi bớt hoảng sợ, cảm thấy an tâm nữa, mặc dầu bom nổ tứ tung ở chung quanh.

Mẹ tôi là con một nên trước khi cho phép kết hôn, bà ngoại tôi đã ra điều kiện là ba tôi phải ở gửi rể. Bà tôi có 2 căn nhà sát nhau ở đường Lý Thái Tổ (Amiral Courbet cũ), nên để cho ba mẹ tôi ở một căn, bà tôi ở căn nhà bên cạnh. Hai nhà có cửa thông sang nhau trên lầu và ở trong sân. Hồi đó ba tôi đang viết báo, tòa soạn đang cần chỗ chất giấy in. Nghĩ rằng nhà rộng có thể chứa giấy in báo, và có lẽ cũng nghĩ rằng bà tôi đã cho căn nhà này, thì nó thuộc quyền sở hữu của ba mẹ tôi, nên ông để người ta chở giấy đến. Khi thấy mấy người phu khuân từng chồng giấy lớn vào nhà, bà ngoại tôi chạy vội sang, lớn tiếng: “Không được! Giấy chất như thế sẽ làm sập nền nhà của tôi.” Bà ngoại tôi, tuy là người tốt bụng, song cũng rất nóng tính. Cũng có mặt lúc ấy, tôi sợ hãi nhìn ba tôi, nghĩ sắp có chuyện lớn. Nhưng không, ba tôi chỉ hòa nhã, lễ độ nói ông sẽ cho người chở giấy đi ngay. Và xin lỗi bà tôi nữa. Ông cũng không phân trần số giấy ấy không thể nào làm sập nhà được. Ông luôn luôn chế ngự được cảm xúc, giữ bình tĩnh trong mọi tình huống. Tôi thật phải tạ ơn trên đã không gửi cho ông những thử thách quá lớn đối với sức chịu đựng cho đến ngày ông vĩnh viễn ra đi.

Thời cuộc biến chuyển thật nhanh. Nhật chiếm đóng Việt Nam. Không được lâu. Quân Tàu trong phe Đồng Minh tới giải giáp Nhật. Những cuộc khủng hoảng Nội Các. Vua Bảo Đại thoái vị. Cách mạng tháng Tám. Việt Minh lên nắm chính quyền. Sự chống đối của các đảng phái Quốc Gia. Tôi nhớ hồi đó ba tôi luôn luôn ở trên tòa báo đường Quan Thánh, một trụ sở của Việt Quốc. Tôi ít khi thấy mặt ông ở nhà. Hết rồi những buổi chơi ném giấy với ông qua chiếc bàn ping-pong! Ông một phe, ba chị em tôi một phe – mà một lần cúi xuống nhặt giấy, tai ông móc phải một cái đinh ở bàn, máu chảy ròng ròng. Chúng tôi sợ hãi rút lui – may sao lúc đó mẹ tôi về băng bó cho ông, và mắng cho chúng tôi một trận.

Cái bàn viết trong phòng làm việc của ông cũng bị dẹp bỏ từ bao giờ. Hồi còn “thanh bình”, tôi vẫn thường trèo từ ghế lên, ngồi xổm trên bàn – mặt bàn có phủ kính – nhìn xuống những giấy tờ, bản thảo ngổn ngang, tự nhủ “Nghề này thích thật! Lớn lên mình sẽ làm nghề này.”

Những khi ba tôi có mặt ở nhà, rất nhiều người lui tới, phần lớn là thanh niên. Họ đều vũ trang, đeo súng: các thành viên trong Quốc Gia Thanh Niên đoàn, hay Lục Quân Yên Bái, hay các vệ sĩ thì phải?

Rồi Việt Minh biểu dương lực lượng với đoàn Nhi Đồng diễn hành trên đường, “trống ếch khua vang”. Khí thế bừng bừng. Tôi ao ước được xuống nhập bọn với họ, nhưng không thể, vì ba tôi là một tên tuổi quan trọng trong hàng ngũ Quốc Gia. Tức bực, tôi bèn xoay ra “tổ chức” một đoàn thể tại gia, mà đương nhiên tôi là người cầm đầu. Thành viên của đoàn là hai em tôi và anh Ba người giúp việc. Mỗi người phụ trách “canh giữ” một nơi trong nhà. Tôi tay cầm súng gỗ, hông đeo băng đạn giả chạy lăng xăng kiểm soát. Có lần khách đến chơi kéo chuông, tôi chạy ra mở cửa, hãnh diện với trang y của mình. Các bà bạn của mẹ tôi trố mắt nhìn cô bé ăn mặc và hành động thật “tomboy” thời đại ấy. Ba tôi, vì bận công việc, vì xa gia đình luôn, có lẽ không ngờ rằng hoàn cảnh nước nhà lúc ấy đã ảnh hưởng không ít đến nếp sống và suy nghĩ của các con. 

*
Theo mẹ tôi thì người ngoài thường phê bình Hoàng Đạo là một con người lạnh lùng, dè dặt. Có người còn cho là ông kiêu căng nữa. Vậy nên khi tiếp xúc với ba tôi, người ta hơi e ngại, và không cảm thấy thoải mái lắm. Thật ra, điều này chỉ người trong gia đình biết, cái bề ngoài lạnh lùng, dè dặt đó là do bản tính nhút nhát, ngại tiếp xúc và nói chuyện với người ông không được biết nhiều.

Một lần đi dự tiệc cưới một người bạn, khách được mời rất đông, mà phần nhiều lại là những người trong giới giàu có trưởng giả. Đám cưới tổ chức ở nhà hàng trong khách sạn Métropole, nơi chỉ những người thật nhiều tiền, loại snobbish, trưởng giả học làm sang mới đặt tiệc. Ba tôi miễn cưỡng tham dự, mặc dầu không thích thú. Có lẽ vì nể mẹ tôi. Ăn xong, mẹ tôi kể, ba tôi kéo mẹ tôi ra một cửa hông, không chịu chào từ biệt và chúc mừng cô dâu chú rể. Ông bảo khách đông thế mình không chào cũng không ai để ý. Thực ra, ông ngại phải xã giao thêm dăm ba câu nữa với những người mà ông không ưa thích, sau khi đã phải chịu đựng thù tiếp mấy tiếng đồng hồ với các thực khách khác. Và, chủ nhân có để ý. Chú rể, một người bạn của mẹ tôi, sau này có trách mẹ tôi rằng cặp vợ chồng này biến đi đâu mất sau khi ăn trong buổi tiếp tân…

Đó chỉ là một người bình dị. Tất nhiên ông biết thưởng thức những món ăn đặc biệt, nhưng món ông ưa thích nhất lại là bún riêu đậu rán. Khi mời khách đến nhà dùng cơm, ông thường thuyết phục mẹ tôi cho làm món này. Thực khách ngồi vào bàn, tủm tỉm nhìn nhau, cho là ba tôi lập dị. Cũng có người cho ông là ông quê mùa nữa! Đúng ra, ông nói ngồi trên hè phố thưởng thức một tô bún nóng trong gió lạnh, mới thật tuyệt vời!
Thế nhưng ông lại rất ghét món cà cuống – hấp hoặc chiên – một món ăn chơi khá đặc biệt của người miền Bắc mà bà ngoại tôi đôi khi cho ăn. Ba tôi bảo là ăn gián (cockroach). Muốn trêu ông, mỗi khi được ăn món này, tôi lại khoe: “Ba ôi! Hôm nay con được ăn cà cuống.” Ông chỉ nhăn mặt, buông thõng hai tiếng: “Sale type!” 

*
Đó là những ngày thật xa, những ngày mà gia đình đi nghỉ mát trên bãi biển Sầm Sơn. Và những buổi sáng đi tắm biển. Chính nơi đây ba tôi đã tìm ra hai nhược điểm của đứa con gái đầu lòng. Ông muốn chữa lành hai căn bệnh này cho tôi: sợ độ cao và sợ nước.
Trong khi hai em tôi chạy ào xuống nước biển xanh, dưới ánh nắng ban mai trong suốt, thì tôi chần chừ rồi lùi lại phía sau với sô và xẻng – đồ chơi của trẻ em trên bãi biển – rồi ngồi chơi cát ở một vũng nước lớn mà thủy triển rút đi còn để lại trên bờ. Ba tôi đến nắm tay tôi, dịu dàng bảo:
 
“Đừng sợ. Nắm tay ba dẫn đi.”
 “Đến chỗ sâu, ba cho con vào bờ nhé.”

Ông gật đầu. Yên lòng, tôi để ba tôi dắt đi. Nhưng nước chỉ mới đến ngang bụng, tôi đã la lên đòi vào. Ba tôi bế tôi lên và tiếp tục ra xa hơn, xa nữa, mặc cho tôi la hét. Ông còn nhảy sóng, ngụp xuống nước với tôi trên tay. Lần khác, ông cho tôi ngụp xuống nước, rồi mới xốc tôi lên sau khi tôi đã uống vài ngụm nước biển. Tuy hiểu ba tôi muốn cho tôi làm quen với biển, và rồi có thể sẽ dạy tôi bơi, nhưng lúc đó tôi thấy ghét ông lạ!

Khi phải leo núi, tôi lùi dần đi sau hết mọi người, tới chân núi là ngừng hẳn. Sầm Sơn có hòn Trống Mái, hai hòn đá lớn đứng cạnh nhau, mà Khái Hưng đã lấy làm tựa đề cho một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của ông. Một hôm gia đình tôi leo lên đó chụp hình. Tôi đứng bám chặt lấy một tảng đá dưới chân núi. Ba tôi bèn bế tôi trèo lên núi, và khi tới đỉnh rồi, ông đặt tôi xuống. Ông dang ra xa, khiến tôi không còn cách nào bám vào ông được nữa. Cho đến năm 1975, chúng tôi vẫn còn giữ được một tấm hình chụp Hoàng Đạo và tôi trên Hòn Trống Mái. Ba đứng cách xa tôi, hai tay chống vào sườn, cười thích thú. Và tôi, một đứa nhỏ đứng co ro, gần như muốn ngồi thụp xuống vì sợ hãi. Tấm hình đó đã mất cùng với ngôi nhà bị niêm phong và tịch thu khi những người cộng sản chủ trương lấy nhà của dân miền Nam cấp cho cán bộ ngoài Bắc vào.

Tiếc rằng thời gian tôi ở gần ông quá ít để được huấn luyện thêm, nên cả hai căn bệnh trên đều không được chữa lành. Tới nay, tôi vẫn không biết bơi (dù rất thích biển) và vẫn sợ trèo núi. 

*
Xa hơn nữa, là những ngày bố mẹ tôi mới có một mình tôi. Thời gian “độc tôn” này của tôi cũng chỉ kéo dài có 18 tháng. Ba tôi phải đổi vào Đà Nẵng làm việc khi mẹ tôi đang có mang em trai tôi. Lúc đó, ông làm lục sự tại tòa án, thời mà ông thâu góp kinh nghiệp để viết cuốn “Trước Vành Móng Ngựa”. Gần Tết mẹ tôi đem tôi vào Đà Nẵng thăm ông.

Miền Trung là đất của Vua quan. Sự tôn kính trọng vọng quan lại ở mức độ rất cao. Các quan lớn đi ra ngoài, nhất là trong những dịp lễ lớn, đều mặc áo thụng xanh, đeo bội tinh, mề đay, thẻ bài đầy ngực. Ba tôi bảo mẹ tôi đi đặt cho tôi một cái thẻ ngà, trên khắc mấy chữ “Hàn Lâm Viện Tu Tu”. Mẹ tôi kể tôi rất hãnh diện với cái thẻ ngà đó, đòi đeo suốt ngày. Ngày Tết tôi mặc áo dài gấm xanh, đeo thẻ ngà, chạy tung tăng. Khách đến chơi, có cả các quan, thấy tôi diện kiểu đó bèn tò mò đọc mấy chữ khắc trên thẻ. Có người bảo nhỏ ba tôi: “Sao lại Tu Tu? Phải là Hàn Lâm Viện Biên Tu chứ!” nhưng cũng có người hiểu Ba tôi muốn chế nhạo quan trường đó thôi, và tức giận vì bị chơi khăm.

Cũng trong thời thơ ấu này, tôi đã được hưởng những săn sóc đặc biệt của ba tôi. Ông có một cái bếp cồn trên bàn nhỏ đầu giường, dùng để luộc trứng cho tôi ăn, vì tôi rất thích trứng luộc mềm (soft-boiled eggs). Mỗi sáng thức dậy, vì chưa biết nói, tôi chỉ tay vào bếp cồn ra dấu, thế là ông luộc cho tôi một quả trứng. Ăn một quả còn thèm, tôi lại chỉ vào bếp cồn nữa, và chiều con ông lại luộc thêm. Cứ thế cho đến một ngày, khi rửa mặt cho tôi, mẹ tôi thấy mũi bị vàng, kỳ cọ mãi cũng không sạch. Bà đem tôi đi khám, bác sĩ hỏi: “Bà có cho cháu ăn trứng không? Thường xuyên bao lâu một quả?” Mẹ tôi đáp, “Một hoặc hai quả mỗi buổi sáng.” Bác sĩ lắc đầu cười, “Quá nhiều! Gan nó bị ảnh hưởng đấy. Chỉ mỗi tuần một quả thôi.”

*
Lớn hơn một chút, tôi thích đợi đến giờ ông đi làm về để chạy ra đón bố. Tôi thường lên lầu ra bao lơn đứng chờ ông. Nhìn ra đầu phố, thấy bóng một người tầm thước, hơi gầy, trong bộ complet màu nhạt xuất hiện ở góc phố, tôi chạy vội xuống nhà dưới, mở cửa ra ngoài đón ba tôi. Tôi chạy vội nên nhiều khi ngã xấp ngã ngửa. Ông bèn đỡ tôi dậy, dắt về nhà, vừa đi vừa hỏi chuyện tôi. Có lần ông trao cho tôi một cuốn Sách Hồng, truyện nhi đồng của Tự Lực Văn Đoàn hồi đó. Cuốn truyện tựa đề “Lan và Huệ”, tác giả là Hoàng Đạo.

“Ba tặng con, hở ba?”
“Ừ, ba tặng con đó.”

Tôi sực nhớ đến cuốn “Cắm Trại” của Khái Hưng, cũng loại Sách Hồng. Trên trang đầu, tác giả cho in dòng chữ “Tặng em Triệu” (Triệu là tên con trai ông).
“Con muốn ba đề tên con vào, đề tặng con kia.”
“Về nhà ba sẽ viết tên con vào.”
“Con muốn ba in kia.”

Ba tôi bèn giải thích rằng cuốn này đã in rồi, thôi để lần sau viết cuốn khác ba sẽ in tên con. Nhưng ba tôi không viết Sách Hồng nữa, và tôi chẳng bao giờ có được cuốn sách tặng in tên mình như tôi hằng ao ước.

*
Có lẽ ít người biết rằng Hoàng Đạo lại rất mê đọc tiểu thuyết kiếm hiệp Tàu. Thật vậy, tôi vẫn đi thuê về cho ông đọc chung. Hôm tôi mượn cuốn Phong Thần về, đưa khoe ba tôi, ông cầm lấy đọc ngay. Tôi ngập ngừng một chút rồi phản đối:

“Ba! Con đi thuê về mà. Con chưa đọc.”
“Quyển này, con không đọc được.”

Ba tôi nghiêm giọng trả lời.

“Sao vậy, ba?”

Tôi hơi lo, đoán trong truyện có những điều một đứa trẻ mười tuổi không nên biết. Ba tôi suy nghĩ một chút, rồi trả lời:

“Vì cuốn này ba phải đọc trước đã.”
“Sau đó, con đọc được không?”
“Được chứ!”

Thế là ba tôi đã tranh đọc trước cuốn sách!

*
Sau khi từ trại An Trí Vụ Bản trở về, tính chất tinh thần ba tôi dường như có thay đổi. Trước kia, ông không hề tin tưởng bất cứ gì có tính cách thần linh, siêu thực. Ông cho rằng tín ngưỡng – dễ đi đến mê tín – đem lại cho người dân một nước lạc hậu nhiều hại hơn lợi. Ông không đả kích tôn giáo, mà chỉ đả kích những hủ tục liên hệ đến tôn giáo. Tuy nhiên ta cũng dễ thấy ông không hề tin một tôn giáo nào, khi đọc những phần “Đi xem mũ ni” và “Đi xem mũ giấy” trong thiên phóng sự “Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu” đăng trong báo Phong Hóa.

Vào những năm cuối đời, Hoàng Đạo đã làm hòa với tôn giáo, trở về với tín ngưỡng. Trong một buổi lễ quy y đầu Phật tổ chức tại nhà bà ngoại tôi, ba tôi đã dự lễ này cùng toàn thể gia đình. Tất cả đều đã được vị sư chủ lễ đặt cho Phật hiệu. Đạo hiệu của ba tôi là Phúc Vân, cũng phù hợp với tên Tường Long của ông.

Lần cuối tôi được trông thấy ba tôi là ngày ông sửa soạn ra đi với phái đoàn hòa giải của Chính Phủ Liên Hiệp. Ba tôi đứng xoay mặt vào tủ gương thắt cà vạt, nói chuyện với mẹ tôi về nhiệm vụ sắp tới của mình. Tôi nhìn vào khuôn mặt ba tôi trong gương, không thể ngờ rằng đó là lần cuối. Việc hòa giải thất bại, ba tôi phải lánh sang Trung Quốc và không bao giờ trở về nữa. 

*
Ba tôi đã mất đi đột ngột trên một chuyến xe lửa từ HongKong về Quảng Châu, sau khi tiễn mẹ tôi và em trai tôi sang thăm trở về Việt Nam. Đang đọc báo, ông gục đầu xuống vĩnh viễn ra đi. Không một người thân bên cạnh. Có thể là vì bệnh tim? Hay vì một lý do nào khác? Nghi vấn này chưa được giải đáp, và có lẽ chẳng bao giờ được giải đáp. Nơi yên nghỉ cuối cùng của ông là một nghĩa trang ở trấn Thạch Long, nghe nói sau này Trung Cộng đã giải tỏa để làm khu dân sinh. Nắm xương tàn của ông đi về đâu, tôi nghĩ đó không phải là điều quan trọng nhất. Bởi vì cái phần tinh anh của Hoàng Đạo vẫn tồn tại trong các tác phẩm của ông, nhất là trong các bài báo nghị luận tranh đấu thời đó. Tinh thần hài hước, tài châm biếm tuyệt vời vẫn còn đó. Hình ảnh của Hoàng Đạo, khuôn mặt nghiêm nghị với vầng trán bích lập, và đôi mắt sáng trầm tư vẫn sống trong tâm hồn những người thân yêu của ông còn sót lại trên thế gian này.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20223:56 CH(Xem: 12)
Ông sống với anh em bằng cả tấm lòng, không hề phân biệt lớn nhỏ, đã thành danh hay chưa.
18 Tháng Năm 20223:18 CH(Xem: 64)
Tuy làm thơ từ năm 1947, nhưng phải đến thập niên 50, khi sống và học tập ở Paris thi ca Cung Trầm Tưởng mới hình thành đường nét với cá tính riêng biệt.
12 Tháng Năm 20223:47 CH(Xem: 142)
Nghĩ cho cùng, không có cái rủi nào lại không chứa sẵn ít nhiều cái may.
11 Tháng Năm 202210:40 SA(Xem: 93)
Vấn đề mà bài viết này đặt ra không nhằm khuyến khích sự khó hiểu hay không thể hiểu
30 Tháng Tư 202210:56 SA(Xem: 203)
Mỗi cuốn sách một số phận, trôi nổi qua biết bao biến cố, bỗng một hôm trở về với người sưu tầm, người đọc như những báu vật của thời gian…
27 Tháng Tư 202210:57 SA(Xem: 182)
Lần đầu tiên tôi gặp anh Quang Dũng là tại nhà anh Nguyễn Bính, cũng là trụ sở Báo Trăm Hoa. Năm ấy, tôi đang là cậu học trò từ tỉnh nhỏ ra Hà Nội, đang học lớp đệ nhị
21 Tháng Tư 20225:04 CH(Xem: 167)
Không biết báo gì mà khiến người ta phải chen như thế, điều chưa từng có! Tôi cũng len vào, mua thử một tờ xem sao. Đó là tờ báo Nhân Văn số 1.
02 Tháng Hai 20229:46 SA(Xem: 778)
Ngày 14-6-1975, tôi trình diện với tư cách sĩ quan biệt phái tại trường Tabert, sau khi đóng 10 ngày tiền ăn. Bây giờ nghĩ lại thấy cũng tức cười.
25 Tháng Giêng 20225:43 SA(Xem: 508)
Đầu tháng 8-1954, sau khi ký hiệp định Genève vài tuần, tìm ra đến phố Nam Đồng Hà Nội, anh Cả đã gặp Me, có được một số tiền để về lo cho gia đình và nhắn Ba rời Thanh Hóa vào Miền Nam đoàn tụ.
08 Tháng Giêng 202211:07 SA(Xem: 653)
Sau khi tờ “Ngày Nay” đóng cửa, nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã cố gắng ra được thêm một tờ báo khác tiếp nối, gần như bị lãng quên, đó chính là tờ “Chủ nhật tuần báo.
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-360-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 30357)
Bài thơ đầu tiên (?) của Tô Thùy Yên được giới thiệu trên Sáng Tạo, gây tiếng vang lớn và, dư âm của nó, kéo dài nhiều năm sau, là “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” viết tháng 4 năm 1956.
(Xem: 78)
Nhưng tôi vẫn yêu (yêu lắm,) việc làm của bạn. Bởi vì, với tôi, tự thân đời sống bạn tôi, đã là một trường khúc
(Xem: 11976)
Hay ước nguyện cuối cùng trước khi nhắm mắt, không chỉ của giới trẻ mà, của rất nhiều văn nghệ sĩ thời đó là, một lần được đứng dưới những ngọn đèn vàng của ga Lyon!
(Xem: 13636)
Trước khi theo đơn vị dư cư vào miền Nam, năm 1954, nhà văn Văn Quang bị động viên khóa 4 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
(Xem: 465)
ông được trao huy chương vàng cuộc triển lãm hội họa, do cơ quan Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa UNESCO, thuộc tổ chức Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Roma năm 1967.
(Xem: 7091)
Đầu mùa Dã quỳ nở năm nay, Du Tử Lê lặng lẽ trở lại Pleiku, miền đất mà ông đã gửi gắm một thời thanh niên của mình ở đấy.
(Xem: 4472)
Nói như Orchid Lâm Quỳnh, không có cái gọi là “better place” cho bố, vì bố đã rất ấm áp, bình an trong ngôi nhà đó. Thiên đàng ở đâu thì kệ nó chớ!
(Xem: 307)
Du Tử Lê là Thi Sĩ Một Đời. Thi Sĩ Viết Hoa, tôi viết và biết về thi sĩ như thế. Ông không chỉ làm thơ. Ông sống với thơ. Sống bằng thơ. Thơ với ông là một.
(Xem: 3318)
trong biết bao nhiêu lần âm thầm nói lời chia biệt từng thân thương, gia đình, bằng hữu,… lần này là thật.
(Xem: 3027)
Tôi đã thảng thốt khi nghe tin Du Tử Lê qua đời, từ cú điện thoại một người bạn làm thơ và làm báo.
(Xem: 14520)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 4043)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 4447)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 4969)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 5036)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 25239)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 19436)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 16980)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 20409)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 18187)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 16851)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 14387)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 13489)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 13638)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 12634)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 12179)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 19300)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 26499)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 31276)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 22532)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 24606)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 27491)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 26920)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 22626)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
2,319,686,071,855,368,569