Phạm Ngọc Lư, “ai trong muôn dặm không về nữa”? (Kỳ cuối - 05)

17 Tháng Bảy 201611:47 SA(Xem: 722)
Phạm Ngọc Lư, “ai trong muôn dặm không về nữa”? (Kỳ cuối - 05)

 

Du tử Lê.

(Tiếp theo và hết)

Trong năm 1972, Phạm Ngọc Lư không chỉ có “Biên cương hành” mà, ông còn có thêm bài “Cố lý hành”.

Tôi không biết bài nào sáng tác trước, bài nào sau? Chỉ thấy, họ Phạm vẫn dùng kỹ thuật lung-khởi cho phần “intro.” “Cố lý hành”:

Chiều chết đuối trên sông ngờm ngợp

Nước đua chen đớp bọt nắng tàn

Đò qua sông đìu hiu bến đợi

Buồn rút lên bờ cây khai quang

Mây đổ xù lông như chó ốm

Trời bôi nhòe mặt ngóng đêm sang

Thôn ổ tiêu sơ gầy khói bếp

Đồng không mốc thếch lạnh tro tàn” (Nđd)

Trong 8 câu mở đầu “Cố lý hành”, với tôi, ba câu:

Mây đổ xù lông như chó ốm / Trời bôi nhòa mặt ngón đêm sang” và “Đồng không mốc thếch lạnh tro tàn”, là bai câu thơ vừa đẹp về phương diện liên-tưởng, lại vừa gần nhất với phong vị “hành”.

Nhìn chung, “Cố lý hành” vẫn là tâm cảnh của một cá nhân (thi sĩ) trong đời thường, như bất cứ một cá nhân bình thường nào khác - - Hiểu theo nghĩa tác giả không mượn… “hành” để ký thác, ca thán tâm cảnh thất chí của kẽ sĩ sinh bất phùng thời: Mộng lớn không thành! Đời còn cũng sớm cạn kiệt nghĩa sống!!!

Ở phân đoạn kế tiếp, Phạm vẫn chờ đợi người đọc chia sẻ với ông, cái thân thế chênh chao, thất lạc của một cá nhân nhỏ bé trước không gian và thời gian. Phạm vẫn muốn được đất trời “cố thổ”, nhận ra tấm lòng gắn bó thao thiết với nơi chốn của ông; dù thời thế nhiễu nhương, tao loạn đã ném ông (chiếc lá bị bứt khỏi cành), tán lạc cùng trời cuối đất:

Mười năm chưa lạ mặt xóm làng”

Câu thơ phản ảnh truyền thống “cóc chết ba năm còn quay đầu về núi” của người Việt Nam. Nhưng “cố thổ” lại quay lưng, xua đuổi ông. Tựa chiến tranh, thảm kịch đã…“đoạn bào”, cắt áo, chia tay với chính máu mủ, thịt xương mình:

Sao phên giậu nghiêng đầu câm nín

Rơm rạ làm thinh chẳng hỏi han

Cổng khép rào vây vườn cỏ dại

Tường xiêu mái rách bóng nhà hoang

Ngõ vắng bàn chân như hụt đất

Tre già đang kể chuyện chôn măng…” (Nđd).

Tôi vẫn nghĩ, một trong những di-truyền-tính của nhân loại là tính tìm về, từ khởi thủy của loài người. Đó là nhu cầu (thói quen) tìm về hang ổ của tổ tiên chúng ta, thời còn ăn lông ở lỗ. Họ phải tìm về nơi chốn tự đó đã ra đi, trước khi trời sụp tối - - Hầu ngăn ngừa sự lạc đường, mất dấu (?) Cũng như để bảo vệ mạng sống trước mọi đe dọa của thú dữ, tai ương (?)

Có dễ vì thế mà lịch sử thi ca cũng như âm nhạc, tính tới hôm nay, đã cho chúng ta khá nhiều sáng tác cảm động chung quanh chủ đề này.

Tôi muốn nói, mỗi thời kỳ VHTN, lại cho chúng ta những rung cảm phản ảnh đặc tính từng giai đoạn lịch sử mà, con người đã kinh qua!

Cụ thể, ở thời kỳ chiến tranh miền Nam, 20 năm, bản năng tìm về qua thơ Phạm Ngọc Lư không còn là hình ảnh: “Về đây nhìn mây nước bơ vơ / về đây nhìn cây lá xác xơ / Về đây mong tìm bóng chiều mơ / Mong tìm mái tranh chờ / Mong tìm thấy người xưa …” như trong ca khúc “Ngày Về” của Châu Kỳ. Hoặc “Ngày Trở Về” của Phạm Duy với hình ảnh: “Mẹ lần mò, ra trước ao nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ / Tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ …”


Mà là:

Tre già đang kể chuyện chôn măng…”

Hoặc:

Đâu bóng mẹ già sau khung cửa

Và những người em mặt trái soan

Đâu bóng chị hiền như hoa cỏ

Bên luống cà xanh liếp cải vàng !

Đất đá thở ra mùi u uất

Bốn bề hun hút rợn màu tang

Ai chết quanh đây mà cú rúc

Mà cơn gió lạnh réo hồn oan

Ai trong muôn dặm không về nữa

Cố lý mười năm mộng bẽ bàng…”

(Phạm Ngọc Lư, “Cố lý hành”)

Tôi không biết, có phải “Cố lý hành” tự thân, chẳng những đã không có cho nó cái khẩu khí của tráng sĩ muốn “đội đá vá trời”, mà lại có khá nhiều những ẩn dụ, nhân cách hóa, liên tưởng mới mẻ… đã giới hạn cảm nhận của người đọc, khi họ không “thấy có mình” trong văn bản (?)

Nhưng cách gì thì thơ Phạm Ngọc Lư, dù đã gần nửa thế kỷ trôi qua, hôm nay, vẫn còn được một số người tìm đọc. Điển hình, nhà văn Đỗ Trường ở Leipzig (Đức quốc), trong một bài viết ghi tháng 6 năm 2015, có đoạn:

“… Nếu được phép đi tìm những khuôn mặt cho văn học miền Nam còn ở lại trong nước, chắc chắn thi sĩ tôi nghĩ đến trước nhất phải là Phạm Ngọc Lư. Tuy viết không nhiều, nhưng cốt cách Con Người cũng như hồn vía văn thơ của ông trong một cái xã hội dối trá lọc lừa, không phải ai cũng giữ được.

Nhà thơ Phạm Ngọc Lư sinh năm 1946 tại một làng nhỏ vùng duyên hải thuộc huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên cách thành phố Huế khoảng 30 cây số về hướng Đông Nam, trong một gia đình thuần nông. Ngay từ thuở ấu thơ Phạm Ngọc Lư đã được cha và người bác truyền dạy chữ Hán. Ông là cựu học sinh Quốc Học, sinh viên Viện Hán học và Đại học Văn Khoa Huế. Sau khi tốt nghiệp sư phạm Qui Nhơn, ông về dạy học ở Tuy Hòa. Năm sau, 1968, ông bị (được?) động viên nhập ngũ khóa 5/68 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Chỉ một thời gian ngắn tập luyện ở quân trường, ông lại được biệt phái trở về ngành giáo dục. Nhưng sau năm 1975, ông bỏ nghề. Từ đây, hoàn cảnh, xã hội đã đẩy Phạm Ngọc Lư phiêu bạt nhiều nơi, có những lúc cuộc sống, tâm hồn tuyệt vọng, tưởng chừng ông đã đoạn tuyệt với thi ca. Nhưng rồi chính nó lại là điểm tựa, giúp ông vượt qua những đắng cay, tủi nhục ấy. Và Đà Nẵng mới là nơi hội tụ, điểm dừng chân cuối, không chỉ riêng ông, mà còn của nhiều thi nhân lỡ bước khác.

Phạm Ngọc Lư xuất hiện trên thi đàn rất sớm. Từ năm 17 tuổi (1963) ông bắt đầu tập viết và vài ba năm sau đó đã có thơ và truyện đăng trên các báo, nguyệt san: Nghệ Thuật, Văn, Khởi Hành, Bách Khoa, Ý Thức, Tuổi Ngọc… Thơ Phạm Ngọc Lư mang đậm chất cổ thi và sử dụng nhiều điển tích cũng như từ ngữ Hán Việt. Do vậy, thơ ông cổ kính sang trọng, nhưng khi đọc lên tưởng chừng rất dễ vỡ.

Quả, khi đọc, nghiên cứu Phạm Ngọc Lư, đôi khi ta bắt gặp một vài thủ pháp nghệ thuật sử dụng hình ảnh, câu từ khá tương đồng với cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Bởi, có lẽ hai thi sĩ đều có điểm chung, học chữ Hán và có nền tảng cổ văn khá vững, ngay từ thuở thiếu thời chăng? Tuy là vậy, nhưng tư tưởng, hồn vía trong thơ lại có những khúc rẽ rất khác nhau.

Sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đất nước không có một ngày bình yên, do vậy Phạm Ngọc Lư thấm được nỗi đau và sự mất mát trong chiến tranh và nỗi thống khổ sau cuộc chiến. Là nhà giáo, không phải cầm súng nơi chiến trường, nhưng với ngòi bút của mình, người thi sĩ trẻ ấy đã bóc trần sự thật của chiến tranh. Có thể nói, Biên Cương Hành là một trong những bài thơ hay nhất viết về chiến tranh, không chỉ của thi ca miền Nam, mà cho cả nền thi ca đất Việt. Đa số những bài viết về đề tài chiến tranh, hay cổ động chiến tranh thường có giá trị nhất thời. Nhưng Biên Cương Hành lại có sức sống dẻo dai và sự lan tỏa mạnh mẽ, bởi ngoài sự thật tàn khốc của chiến tranh, nó còn chứa đựng giá trị nghệ thuật cao…” (6).

Tôi chọn kết thúc loạt bài về thơ Phạm Ngọc Lư bằng vài trích đoạn ngắn, từ bài viết dài, công phu của nhà văn Đỗ Trường, đề cập tới nhiều khía cạnh thi ca Phạm Ngọc Lư, gồm luôn cả phần tiểu sử, tôi cho là tương đối đầy đủ nhất về tác giả này.

_________

Chú thích:

(6): Nguồn: danlambaovn.blogspot.com

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 201812:58 CH(Xem: 32)
Cá nhân, tôi muốn mượn câu thơ trên của cụ Nguyễn Du, để chỉ cõi-giới thi ca, một người tên: Thanh Thảo
16 Tháng Mười 20189:43 SA(Xem: 76)
Bây giờ còn có người mà kể lại (chuyện Tao Đàn); mai đây không biết còn kể lại với ai?
09 Tháng Mười 20183:43 CH(Xem: 544)
Con đường anh đi đã thành đường, mới hơn những gì mới nhất trong tiến trình thơ ca Việt Nam.
01 Tháng Mười 20189:55 SA(Xem: 96)
Khoa Hữu được bạn đọc hải ngoại yêu mến suốt mười năm nay
24 Tháng Chín 201810:24 SA(Xem: 188)
Chúng ta là ai, chúng ta sẽ làm gì? Sách của Thái gửi những câu hỏi đó, ngay khi bạn nhắm mắt lại.
29 Tháng Tám 20184:03 CH(Xem: 647)
Ông Tô Thùy Yên! Giá Thượng Đế mà biết được trong vô vàn chúng sinh có những đứa sống đầy ý thức như thế
15 Tháng Tám 201810:58 SA(Xem: 721)
Trong làng thơ Việt Nam nửa thế kỷ qua có hai cặp bạn lỗi lạc. Phía nam vĩ tuyến 17 là cặp Vũ Hoàng Chương - Đinh Hùng; ngoài bắc giới tuyến là cặp Xuân Diệu - Huy Cận.
11 Tháng Tám 20189:10 SA(Xem: 214)
Truyện dài “Có Một Thời Nhân Chứng” là tác phẩm thứ ba của nhà văn Lê Lạc Giao, do Nhà Xuất Bản Văn Học phát hành năm 2018.
07 Tháng Tám 20181:34 CH(Xem: 330)
Dương Nghiễm Mậu là cây bút có lương tâm. Quyết nói lên trung thực những gì mình nghe thấy, tức là những oan khiên cùa thời đại
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 219)
Nhạc phẩm đầu tiên ông sáng tác lúc mới 13 tuổi là bài ‘Mẹ Tôi’,
(Xem: 178)
Thanh Thúy, như một hiện tượng gom được cả thực và phi thực.
(Xem: 177)
Trong số hàng chục nghệ sĩ từng bày tỏ tình yêu một chiều với Thanh Thúy,
(Xem: 256)
Nhiều người nói, Trịnh Công Sơn không phải là người đầu tiên gieo cầu nhắm vào Thanh Thúy.
(Xem: 503)
Rất nhiều người vẫn còn nhớ 4 câu thơ tuyệt tác của nhà thơ Hoàng Trúc Ly, viết tặng Thanh Thúy
(Xem: 5413)
Du Tử Lê nói ông chỉ muốn im lặng. Trong phần hỏi-đáp rất ngắn dưới đây, nhà thơ Du Tử Lê có giải thích về sự im lặng của ông, với nhiều ngụ ý.
(Xem: 651)
Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.
(Xem: 12041)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1478)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 6159)
“Ngay sau khi gặp ông, tôi đã bước sang “chặng đường ngỡ ngàng.” Không ngỡ ngàng sao được khi mà đứng bên ông
(Xem: 406)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 491)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20317)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 15143)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12695)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 15958)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 13999)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12467)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10463)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9702)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9826)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 9032)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8612)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9836)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 15049)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21453)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27238)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18722)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19835)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 24056)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21774)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 18180)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,954,251