VŨ THƯ HIÊN - Một bữa rượu

24 Tháng Mười Một 20168:02 SA(Xem: 1255)
VŨ THƯ HIÊN - Một bữa rượu

 

 

1

 

Rét căm căm.

Khoác tấm chăn lính màu cứt ngựa, ông Văn ngồi bó gối trước cút rượu trơ đáy. Nhìn cái dương cầm sứt sẹo véc ni, ông muốn đi tới đấy gõ một giai điệu chợt đến trong đầu, nhưng lại lười. Mà không hẳn vì thế – tiết trời quá hanh làm vênh những phím đàn, âm không còn chuẩn. Hôm qua ông đã chơi thử Premier Concerto của Tchaikovsky, rồi bỏ dở giữa chừng, bất mãn với cây đàn già lão. “Đến lúc phải lên dây rồi – ông nghĩ và thở dài – Lại tiền!”

Có tiếng gõ cửa.

Ông lười biếng ngẩng đầu:

- Đẩy mà vào.

Người bước vào đem theo luồng gió lạnh làm ông rùng mình là ông Thư.

- Khép chặt lại – ông bảo.

Nhìn ra ngoài trời qua kính cửa mờ, ông như thấy những khối không khí lạnh ùn ùn đuổi theo nhau vùn vụt. Cảnh tượng làm ông rùng mình.

Lẻo khoẻo trong bộ bảo hộ lao động rộng thùng thình và bạc phếch, ông Thư đã gày trông càng gày hơn.

Rút trong cái túi dết bộ đội lép kẹp ra một cút rượu đầy đến tận nút, ông Thư nhẹ nhàng đặt nó xuống trước mặt ông Văn.

- Đâu ra thế? - mắt ông Văn sáng lên.

Ép chặt hai tay trước ngực cho đỡ lạnh, ông Thư xuýt xoa:

- Vừa lĩnh lương, anh ạ! Hôm nay không có việc, đến lấy lương rồi về. Nhà có gì nhắm không, anh?

- Nhẵn như chùi – ông Văn lắc – Suông thôi.

Ông Thư rút cái nút lá chuối, đưa lên mũi ngửi:

- Thằng chủ quán không cho nếm. Giấu giấu diếm diếm giúi vào tay rồi giục đi cho nhanh. Mà có thấy mặt thằng quản lý thị trường nào đâu.

- Thời buổi này ai cũng cẩn thận. Không trách được.

Ông Thư thận trọng nghiêng cổ chai để không rớt một giọt, rót rượu vào hai chén hạt mít, đoạn hai tay bưng một chén cho ông Văn.

Ông Văn đỡ lấy, nhấp một ngụm nhỏ:

- Được đấy, cậu ạ.

Rồi ngửa cổ làm một hơi.

Rượu vào làm ông Văn thấy bớt lạnh. Da mặt đã thoáng hồng, hoặc đã sáng lên một chút, như ông Thư thấy. Ông Thư biết ông Văn sẽ vui lắm khi nhìn thấy cút rượu cạn trên phản.

Rượu đúng vị Trương Xá, ông Văn gật gù. Rượu Trương Xá là cái gu của ông, nó là rượu lậu, nhưng dân làng vẫn nấu, vẫn bán, vẫn giữ cái danh rượu của làng mình. Thằng Thư này tinh ý, biết tính ông, vị rượu lần này hơi nhạt, bị pha phách là cái chắc.

Nhìn bộ quần áo nhem nhuốc của ông Thư, ông ái ngại:

- Công việc thế nào, vất lắm không?

- Cũng phải quen thôi, anh ơi – ông Thư cười nửa miệng - Lúc đầu việc gì mà chả khó.

Tội nghiệp thằng bé, ông Văn nghĩ, cả đời làm báo, giờ làm thợ cán cao su. Nó còn bảo kiếm được việc là may, là còn người tốt dám thuê mình.

Ông thích cái tính lì của ông Thư, thích cái nhìn sự đời lên xuống của nó bằng cặp mắt ráo hoảnh, không một lời than thở. Chưa kể trong bất cứ cái xấu nào rơi xuống đầu nó vẫn cười, nhìn thấy trong đó một tia nắng. 

Ông Văn thở dài. Ông Thư thấy khi ông Văn cúi đầu có một giọt nước rơi xuống chén rượu.

Ông Văn trôi theo dòng suy nghĩ miên man. Tội tình gì mà người ta nỡ đày ải nó như thế, gần chục năm đằng đẵng nơi rừng thiêng nước độc. Nghe nói đời tù giờ khổ lắm – tù phải phát nương, làm rẫy, đi cày đi cấy, đẵn cây, xẻ gỗ… đủ thứ. Ấy là nghe người khác nói, chứ nó chẳng kể.

Ông thương ông Thư, rồi lại thương mình. Ông không bị đi tù, nhưng cũng như đi tù. Ông tự giam mình trong căn phòng nhỏ - giang sơn còn lại của ông, cần mẫn vẽ các thứ bìa sách cho các nhà xuất bản, nơi còn những người nhớ ông, muốn đỡ đần ông trong thời buổi người khôn của khó. Ông vẽ không suy nghĩ, không cần biết cuốn sách viết gì, ông thích gì vẽ nấy - một hình người chợt đến, vài mảng màu trang trí lăng nhăng, thảng hoặc, ít khi lắm, mới phải vẽ lại theo yêu cầu của biên tập viên, thế là xong cái bìa. Các tác giả không bao giờ phàn nàn. Họ thẩy đều dễ tính, không xét nét, không cầu kỳ, sách viết ra được in đã là tốt, lại được hân hạnh ông vẽ bìa là tốt lắm.

Nhìn mắt ông Văn lờ đờ sau chén thứ tư, ông Thư giữ cút rượu trong tay, không rót tiếp cho ông nữa.

- Sáng giờ anh chưa ăn gì?

- Ờ, - ông Văn bần thần - Có đấy, khoai. Cơ mà hà, vứt đi một nửa.

Ông Thư dợm đứng lên:

- Để tôi chạy ra xem hàng xôi lúa về chưa? Lúc tôi đến, bà ta còn ngồi đấy.

- Thôi, vẽ, đi làm gì. Trong nhà còn thế này, ngoài đường lạnh lắm. Đợi bà nhà tôi xem bà ấy có mang gì về cho anh em mình không?

 

 

2

 

Đối với ông Văn, ông Thư coi mình là đàn em, mặc dầu ông biết ông Văn nhìn mình như người bạn nhỏ, người đáng tin cậy, có thể chia sẻ thậm chí những ý nghĩ thầm kín không thể nói ra với bất cứ ai.

Ông trọng ông Văn còn bởi ông Văn là người công bằng, và rộng lượng nữa, ngay cả với kẻ làm hại mình. Người khác sẽ coi kẻ hại mình dù chút xíu cũng là kẻ thù.

Chuyện là thế này. Ông Văn nổi tiếng. Ông là tác giả của nhiều ca khúc vang dội một thời. Ông làm thơ không nhiều, nhưng được thiên hạ phục – có vẻ không vần đấy, mà lại tuyệt vời về điệu. Ông co rúm trước những nhà thơ mới to tiếng tuyên bố: “Thơ chỉ cần ý, cần tứ”. Nghe một nhà thơ như thế đến đọc cho ông thưởng, ông gõ xe điếu đánh chát vào bát mà kêu lên: “Tớ bận, tớ đang viết một lâm khúc cho tiếng Việt của tổ tiên đây!” Rồi chìa tay ra, tỏ ý cuộc gặp gỡ kết thúc. Gay gắt là thế, dứt khoát là thế, nhưng ông là người quảng giao, yêu mến bạn bè.

Sự nổi tiếng bao giờ cũng gây nên ghen tị. Người trong làng văn nghệ vừa kính trọng, vừa yêu ông, đặt cho ông biệt hiệu “ông tiên chỉ”. Ông tiên chỉ hiền lành rất mực, nói theo cách xưa là quan năm cũng ừ, quan tư cũng gật, thiên hạ nói sao cũng được, ông cười xoà. Với nhà cầm quyền muốn văn nghệ sĩ răm rắp tuân theo cái gậy chỉ huy của mình, dăm ba người cứng đầu mới ra một tờ báo có những bài viết không vừa lòng các quan thì các quan nghĩ ngay đến ông – trong làng văn nghệ thử hỏi ai đứng đầu nếu không phải là kẻ được tôn làm tiên chỉ? Thế là gậy gộc tới tấp giáng xuống đầu ông. Nhưng ông đâu phải người khởi xướng, cũng chẳng phải người đứng đầu. Cái vạ ông phải chịu, nói cho cùng, là vạ gió.

- Có phải thằng vua thơ nó khởi lên vụ đánh anh không? – ông Thư hỏi khi những người khác, chúng khẩu đồng từ, đều nói thế.

- Không phải đâu – ông Văn lắc – Nó cũng là người làm thơ, trong lòng nó không đến nỗi tồi tệ đến thế. Đây là việc của thằng khác, thằng cần tạo ra một cái thùng rác để trút mọi tội lỗi của nó vào đấy.

Chẳng cần nói ra, ai cũng biết thằng khác ấy là thằng nào. Ngồi trên ngai vàng nó xuống một chiếu chỉ là dân chết cả đống, hàng vạn, cho đến nay chưa có ai đếm đúng số người chết là bao nhiêu.

Ông Văn ngâm nỗi buồn của mình vào rượu. Riết rồi thành quen. Có hôm vừa lĩnh nhuận bút ông ra quán uống đến say mèm, không biết đường về. Lại có hôm trong cơn say ông bị mấy tên du thủ du thực không biết từ đâu kéo đến tẩn cho một trận thừa sống thiếu chết. May có người biết ông nhảy vào can thiệp mới đưa được ông về nhà. Những tên đầu gấu như thế người ta gọi là quần chúng tự phát.  

Khi ông Thư ra đến chỗ bà hàng xôi lúa thì thấy chỗ bà ngồi chỉ còn những chiếc lá bàng cuối cùng mới rụng.

Ông đứng đấy, phân vân, không biết nên mua gì về cho ông Văn. Không ăn, chỉ rượu thì bệnh đau dạ dầy của ông Văn đã nặng càng thêm nặng. Bên kia đường có một hàng nước, nhưng ông nhìn nó, không bước sang. Chẳng lẽ lại mua mấy kẹo vừng hay kẹo bột? Kẹo không thể làm đầy cái dạ rỗng.

Ông trở về.

Ở chân cầu thang, một người đội mũ lá, đeo ba lô, đang lúi húi khoá cả hai bánh cái xe đạp cà tàng.

Khi người ấy quay mặt lại, ông Thư há hốc:

- Ôi, anh Kim!

- Tớ đây. Có nghe cậu được thả, chưa tin, Bây giờ mới tin. Về lâu chưa?

- Mới được vài tháng. Anh Văn vừa nhắc anh. Lên đi!

 

 

3

 

- Kim! – ông Văn reo lên khi hai người bước vào – Về Hà Nội hôm nào?

- Hôm kia!

Ông Kim nhao đến, ôm lấy bạn, thấy trong vòng tay một thân hình gày còm, nhẹ bỗng.

- Sao bây giờ mới đến? – niềm vui gặp bạn làm ông Văn hoạt bát hẳn.

Hai người là bạn lâu năm, từ tiền khởi nghĩa, lại cùng công tác trong kháng chiến. Cả hai là nhạc sĩ sáng tác, thân nhau vì hợp tính, không vì cùng một dòng nhạc. Ông Văn đa dạng hơn ông Kim. Ông vừa viết hành khúc vừa viết nhạc mềm. Ông Kim thì chỉ một dòng lãng mạn, nhưng biết cho vào những ca khúc của ông những lời lẽ cách mạng.  

Ông Thư đứng đực, quan sát cuộc gặp gỡ của hai đàn anh. Ông biết tình bạn của hai người gắn bó thế nào.

Ông Kim gạt đống giấy tờ trên bàn làm việc của ông Văn qua một bên, hạ cái ba lô xuống, lấy ra một gói giấy báo. Đoạn, trịnh trọng đặt nó xuống bàn.

- Gì thế? – ông Văn nhòm cái gói, hỏi.

- Đoán xem!

Ông Kim cười hì hì, cố ý mở gói giấy rất chậm.

Trong gói giấy là một cỗ lòng. Không tim, không gan, không dạ dày.

- Lòng chay à? – ông Văn liếm môi.

- Là may rồi. Một em mậu dịch yêu những bài hát của mình dành cho đấy. Một thứ nhuận bút trả thêm. Không quen ấy à, đừng có hòng.

- Vẫn cứ là tuyệt đi! – ông Văn nhìn những miếng lòng cong queo trong giấy báo, cười tươi.

- Chưa hết! – ông Kim xoa tay, sung sướng nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của bạn – Còn khoản này nữa.

Ông lôi tiếp trong ba lô một chai rượu, đặt nó bên cạnh gói giấy.

Mắt ông Văn còn sáng hơn nữa:

- Chà chà, đào đâu ra của này chứ?

Ông vồ lấy chai rượu, xoay vòng, ngắm nghía nhãn hiệu trên thân nó, ngón trỏ rê theo hàng chữ: CHATEAUNEUF DU PAPE:

- Lâu lắm rồi mới gặp mày – ông lắc đầu khen ngợi, hỏi lại – Đâu ra, Kim?

- Tự nó đến. Đào cũng chẳng được.

- Tức là?

- Quà của một anh chàng Việt kiều. Anh ta đến nhà mình, mắt trước mắt sau đưa cho con mình chai rượu rồi lỉnh lập tức. Không xưng tên. Không nói từ nước nào về. Sợ công an như sợ cọp.

- Chắc tưởng cậu cũng vướng vào trận vừa rồi.

- Chắc thế - ông Kim gật gù.

- Cậu bao giờ cũng may! – ông Văn nói.

Ông Thư hiểu ý ông Văn. Trong trận đánh văn nghệ sĩ, ông Kim không có mặt ở Hà Nội. Vì chuyến đi vô tâm ấy ông không bị mắc tội đàn đúm, gặp gỡ những người bị đánh, nhất là “ông tiên chỉ”. Ông thoát, nhưng vẫn cứ là kẻ đáng ngờ, kẻ bên lề hàng ngũ kiên định cách mạng.

- Cái số tớ nó thế. Muốn cũng chẳng được - ông Kim cười, không mếch lòng. – Tớ luôn gặp may. Cậu Thư lục chạn, kiếm tí mắm muối đi.

Ông Văn ngửa cổ cười, đưa tay lên vuốt râu. Tay chạm vào cằm mới chợt nhớ ra râu không còn. Ông để râu được mấy tháng rồi, nhưng mấy hôm trước nghe bà vợ cằn nhằn: “Anh để râu trông khiếp khiếp là!”, ông đành cạo bỏ.

Ông Thư đi, rồi quay ra nhìn ông Kim, lắc đầu.

Ông Kim trợn mắt:

- Không còn tí gì?

Ông Thư lắc.

- Muối cũng không?

Ông Thư gật:

- Sạch sành sanh.

- Mình quên không nói – ông Văn phân trần - Bà ấy hôm nay mới mang sổ đi mua. Chứ nhà mình hôm qua đã chấm mấy hạt muối cuối cùng rồi.

Ba người im lặng. Ông Kim suy nghĩ một lát rồi đứng lên:

- Các cậu đợi mình.

Ông đi những bước quả quyết về phía cửa.

 

 

4

 

Ông Kim mở hai cái khoá, đặt lại cái xích bị tuột khỏi líp, rồi nhẩn nha đạp.

Ông chưa nghĩ ra đi đâu bây giờ. Về nhà ư? Gia đình ông vẫn còn một phòng ở Hà Nội. Ông vẫn quen lang thang như xưa kia ông quen lang thang. Một nhà văn già gọi thói quen đó là bệnh “xê dịch”. Hì hì, chữ nghĩa thế mới là chữ nghĩa chứ, đắt thật là đắt. Không thể trúng hơn. Nhà ông là nhà của vợ ông, con ông. Cứ như thể nó không phải nhà ông. Nhưng ở nhà ông thì có gì? Nước mắm còn, muối còn, chắc thế, vợ ông đảm, bà bao giờ cũng biết lo liệu trước để không thiếu. Nhìn cảnh nhà ông Văn, ông thương bạn đến xót xa. Ông muốn nhân tiện có cỗ lòng chay, có chai rượu ngon, thì phải có cái gì đó hơn là chút nước mắm, nhúm muối cho một cuộc hàn huyên bất ngờ.

Rồi ông chợt nghĩ ra. Vỗ trán đánh bốp, ông gò lưng cắm cúi đạp. Còn chỗ nào hơn chỗ này nữa, thế mà mình không nghĩ ra.

Ông chỉ dừng lại trước một ngôi nhà lớn ở con phố tây ngày xưa có tên Gambetta, chính khách cộng hoà thời chiến tranh Pháp-Phổ.

Gác xe đạp bên cái cổng sắt, ông ngần ngừ một lát rồi mới quyết định nhấn chuông. Phải chờ đợi một lát ông mới thấy cánh cửa nhà ở sâu phía trong he hé mở. Nhận ra người đứng ngoài cổng, người đàn bà trong bộ quần áo nhàu nát hấp tấp chạy qua sân với tiếng reo mừng:

- Anh!

- Em! – ông cũng reo lên, nhưng khẽ hơn, rồi hạ hẳn giọng, thì thầm – Không có ai trong nhà chứ?

Người đàn bà lắc:

- Không. Chỉ có mình em. Sao anh gày thế?

Ông rặn ra một nụ cười:

- Em vẫn nhận ra anh mà. Em không khác đi bao nhiêu.

- Anh nói dối – người đàn bà lúng túng vuốt mấy sợi tóc rơi xuống trán – Bao nhiêu năm rồi. em đâu còn trẻ. Anh vào nhà chơi nhé? Đừng ngại. Anh nhà em đi công tác vắng. Người ở về quê.

Ông lúng túng:

- Không, anh vội.

Người đàn bà nguýt:

- Anh thì lúc nào mà chả vội. Anh chỉ không vội đúng vào lúc cần phải vội thôi.

Ông Kim hiểu ý trách móc trong câu nói. Ông thì thào:

- Đừng trách anh nữa. Anh biết mình có lỗi rồi.

Hai người im lặng một lát, tìm câu tiếp theo.

- Em ơi! – ông nói khẽ.

Người đàn bà nhìn ông, chờ đợi:

- Gì cơ?

Ông ấp úng, mãi mới thốt nên lời:

- Em có… mắm tôm không?

Người đàn bà thở dài:

- Có. Có tất: mắm tôm, chanh, ớt, rau thơm...

- Bọn anh lâu ngày mới hoặc nhau – ông lắp bắp – Em hiểu mà.

 

 

5

 

Khi ông Kim đặt mọi thứ mang về xuống bàn, ông Văn phát cái đét vào đùi:

- Giỏi!

Ông Thư phụ hoạ:

- Anh Kim bao giờ mà chẳng giỏi. Khó khăn nào cũng vượt qua, bữa chén nào cũng xuất sắc.

Ông Văn ngẩn mặt hỏi:

- Ở đâu ra của quý thế này?

- Văn còn nhớ Kim Tuyến ở phố Phúc Trìu không?

- Nhớ chứ, sao không. Nghe nói người đẹp rồi lấy một ông kễnh.

Ông Kim mặt buồn rầu, gật.

- Thôi, bỏ chuyện quá khứ đi. Mình uống cái gì với thứ này đây?

- CHATEAUNEUF DU PAPE! – cười hỉ hả, ông Văn đọc nhãn rượu thật to, như ra lệnh.

Và hùng dũng tung chăn, đứng lên, xỏ chân vào đôi dép đứt quai, ông tất tả chạy vào phòng trong lúi húi một lát rồi mang ra cái mở nút chai lâu ngày không dùng đến đã rỉ sét.

 

 

6

 

Bữa rượu hôm ấy thật vui.

Ba người ăn.

Ba người tranh nhau nói.

Ba người cười ha hả.

Ba người nhìn nhau, ngất ngư.  

Ba người quên tuốt tuột sự đời trong bữa rượu.Nó hiếm hoi. Nó bất ngờ.

Nhìn vào, ai dám bảo đó không phải là ba người hạnh phúc?

 

1992-2016

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Mười Một 20189:42 SA(Xem: 48)
Như không có gì thay đổi qua thời gian dâu bể, trước mặt tôi và Aiko, có thể cả em tôi nữa, mặt trời đáp khẽ hướng đầu nguồn, loang khắp mặt sông xanh một màu cam rực rỡ, rồi mặt trời lặn hẳn, đỏ cam yếu dần chuyển tím ngát.
06 Tháng Mười Một 20189:42 SA(Xem: 283)
Mối tình của Thạch làm Tự bái phục. Thạch một vợ bốn con, tuổi gần năm mươi.
30 Tháng Mười 20189:55 SA(Xem: 130)
Ngày trước nơi đây là một thung lũng ven rừng sâu, nhánh của một con đường chiến lược thời chống Mỹ chạy ngang qua đây rồi đi mãi vào Nam,
24 Tháng Mười 20189:41 SA(Xem: 197)
Katy khẽ run dưới mặt nước khi vuốt ve những vết sẹo trên người anh, như lặng lẽ đếm bằng những ngón tay của cô.
15 Tháng Mười 20189:29 SA(Xem: 123)
Vậy là chồng chị Tư chết thiệt rồi. Nghe đâu chết vì ăn nhầm mấy cái nấm độc gì đó.
03 Tháng Mười 20189:32 SA(Xem: 390)
Tôi đi tập thể dục cũng chẳng bao giờ gặp lại ‘’con đen’’ nữa. Tôi không hiểu tại sao nó cũng biệt tăm như vậy.
17 Tháng Chín 20189:26 SA(Xem: 276)
Chiếc áo đầu tiên quý giá nhất trong gia đình tôi là một chiếc “Áo vua ban" .
29 Tháng Tám 20189:18 SA(Xem: 434)
Thì ra Hách thông minh hơn tôi hằng nghĩ.
27 Tháng Tám 20189:26 SA(Xem: 321)
Mạ, mỗi thứ có một số phận riêng của nó, cứ cố hết sức, và, chuyện thành bại, tùy hỉ nghe.
14 Tháng Tám 20188:56 SA(Xem: 2066)
Thường lệ, cứ đến ngày lễ Phật Đản, trời đổ mưa và vạn vật tươi mát.
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 19008)
Nếu tính từ năm Đinh Hùng in “Mê Hồn Ca” 1954, cho tới “Đường Vào Tình Sử” 1961 thì hai thi phẩm cách nhau gần 7 năm trời.
(Xem: 22143)
Năm 1954, thi sĩ Hồ Dzếnh, giám đốc nhà xuất bản “Tiếng Phương Đông,” sau đổi lại là “Bình Minh,” cho in thi phẩm “Mê Hồn Ca” của Đinh Hùng.
(Xem: 21999)
Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3-7-1920 tại làng Trung Phụng, ngoại ô thành Hà Nội. Ngôi làng này nằm ngay sau lưng khu phố Khâm Thiên.
(Xem: 20145)
Cảm nghĩ của tôi về Đinh Hùng trước khi được tiếp xúc với ông, ở hai trạng thái thật dị biệt
(Xem: 387)
Nhạc phẩm đầu tiên ông sáng tác lúc mới 13 tuổi là bài ‘Mẹ Tôi’,
(Xem: 251)
Tôi rất cảm phục cách Thi Sĩ đặt tựa đề cho bài thơ, “đêm, treo ngược tôi: dấu chấm than!”
(Xem: 5505)
Du Tử Lê nói ông chỉ muốn im lặng. Trong phần hỏi-đáp rất ngắn dưới đây, nhà thơ Du Tử Lê có giải thích về sự im lặng của ông, với nhiều ngụ ý.
(Xem: 733)
Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.
(Xem: 12091)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1562)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 464)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 545)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20391)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 15203)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12764)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 16023)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 14066)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12522)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10508)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9733)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9877)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 9064)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8642)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9935)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 15087)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21507)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27292)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18770)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19880)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 24101)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21851)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 18238)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,977,105