Cây xanh ngoài lời và những khối vuông rubic

20 Tháng Bảy 20173:06 CH(Xem: 1116)
Cây xanh ngoài lời và những khối vuông rubic

(Thơ Hoàng Vũ Thuật, Nxb Hội nhà văn - 2017)

Yến Thanh
(Tặng Hoàng Thụy Anh)

Ngày nay, những diễn ngôn phê bình về thơ có xu hướng phân lập thành những trào lưu, hệ hình và thế hệ khác nhau. Ở sự phân định ấy, các nhà nghiên cứu phê bình văn học nỗ lực kiếm tìm, hoặc có thể là hư cấu nên một vài tiêu chí thẩm mỹ nhất định nhằm gom những nhà thơ chung vào trong một ô nào đó, để phân biệt với những ô khác. Theo lối ấy, thông thường những “người trẻ” sẽ mạnh dạn cách tân hơn những “người già”, những người trong ô “hậu hiện đại” sẽ có nhiều sức sống hơn và tân kỳ hơn những người trong ô “tiền hiện đại”. Những trào lưu mới mẻ như thơ phụ âm hay tân hình thức dĩ nhiên sẽ “hợp thời” hơn so với những người làm thơ Đường luật hay tự do, vần điệu truyền thống. Cách làm này dĩ nhiên là cần thiết trong khoa học văn học, bởi nó giúp cho nhà phê bình có một cái nhìn lịch đại biên niên về lịch sử thi ca Việt Nam, cũng như giúp họ minh họa, kiến giải sống động hơn cho những tìm tòi mới về mặt lí thuyết văn học. Tuy vậy, hình như nhiều trường hợp vẫn có khả năng vượt ra/lên khỏi sự phân biệt thông thường, những ô đóng khung thơ ca đầy máy móc bị chết cứng trong vài tiêu chí mỹ học. Một trong số đó, chúng ta có Hoàng Vũ Thuật.

  1. 1.      Tính triết lý trong thơ Hoàng Vũ Thuật

Hoàng Vũ Thuật sinh năm 1945 tại Lệ Thủy – Quảng Bình, ông là tác gia lớn lên trong chiến tranh chống Mỹ, thành danh về thơ ca trong thời kì đổi mới với tập thơ đầu tay Những bông hoa trên cát (1979). Thành tựu thơ ca của Hoàng Vũ Thuật có lẽ được kết tinh trong tập Tháp nghiêng (2003) với tặng thưởng Hội nhà văn Việt Nam và các giải thưởng Lưu Trọng Lư được trao sau đó. Năm nay, ở độ tuổi “xưa nay hiếm” (72), ông vẫn không an phận thủ thường, nghỉ hưu trong những hình thức cũ, mà vẫn miệt mài đổi mới cách tân. Nhà thơ Việt Nam thông thường dễ dãi trong sáng tạo, vốn chỉ theo một lối mòn. Họ nhập cuộc làng văn thông qua một lối thơ, tư duy thơ cảm tính, bản năng, và mãi cho đến cuối đời vẫn chỉ mải miết “ngựa quen đường cũ” viết theo lối ấy. Người ta hay nhầm lẫn ở chỗ còn sáng tác nhiều, còn được đăng thơ trên Báo Văn nghệ hay Tạp chí Thơ, còn xuất bản thơ, thậm chí còn nhận được giải thưởng thơ tức là mình vẫn đang “sống trải” trong thơ, vẫn là người không ngừng sáng tạo và đổi mới. Thực chất, đó chỉ là một dạng nối dài của “tồn tại” trong thơ, bởi nếu không chấp nhận tự phủ định mình, liên tục tự làm mới mình, đặt ra những chất vấn về tính thơ hoặc cách tân nghệ thuật thơ ca, thì người viết vẫn chỉ là những kẻ “ăn mày dĩ vãng”, hoặc nối dài những vinh quang của ngày hôm qua đã tắt. Dĩ nhiên, chúng ta không thể đòi hỏi nhiều nhặn gì ở những nhà thơ. Họ vốn là những sinh thể cô đơn, cả tin, mỏng manh và đầy yếu đuối. Chỉ cần họ liên tục đẩy đến đỉnh cao giọng thơ mà mình chọn, nâng tầm một lối viết duy nhất thành “tuyệt chiêu” độc đáo, là đã có thể ghi nhận như một người vượt qua thử thách của thời gian. Nhưng vài người khác, với trữ lượng văn hóa và trình độ tư duy nghệ thuật cao, không chấp nhận đứng đằng sau trình độ đương đại của thế hệ mình, vẫn tiếp tục đổi mới bút pháp, tận cho đến khi thở hắt ra và đi về cõi chết. Chúng ta lúc này cũng lại có Hoàng Vũ Thuật. Trong lứa tuổi già nua của bạn bè, bản thân ông sức khỏe kém sút, tiếng nói cũng không còn nhanh nhạy, nhưng tập thơ Cây xanh ngoài lời [Nxb Hội nhà văn, 2017] là một giấy căn cước thơ để ông đối thoại với những hiện tồn, để cho thấy tuổi của nhà thơ không là tuổi trong giấy khai sinh, mà là tuổi tư tưởng trong những văn bản của mình.

Sinh thời, đại thi hào nước Đức Johann Wolfgang von Goethe có một câu thơ đã trở thành châm ngôn nổi tiếng: “Mọi lí thuyết chỉ là màu xám – Chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi”, triết lí nhân sinh ấy hẳn đã được nhà thơ Hoàng Vũ Thuật ngộ ra khi du hành qua biết bao triết lý, tư tưởng, các cuộc chiến tranh và cả những tập thơ đầy vinh quang và cay đắng. Thơ Hoàng Vũ Thuật luôn mạnh về triết lí, sự trừu tượng trong thơ ông không làm khô khan đi câu chữ, mà thực sự ra nó bồi đắp cho nghệ thuật thơ ca vốn dĩ cảm/nữ tính, dễ dãi theo kiểu “thương vay khóc mướn” sự lấp lánh, vững chãi của tư tưởng. Ở Việt Nam, không có nhiều nhà thơ làm được như ông. Trong tập thơ Cây xanh ngoài lời, tính triết lý, suy tưởng, siêu thực này vẫn được tiếp nối, thăng hoa. Bạn đọc dễ dàng tìm thấy đặc trưng nghệ thuật ấy trong mọi bài thơ của Hoàng Vũ Thuật: “xin bạn đừng đọc thơ tôi dòng dòng trải ra trên mặt giấy - trơ & rỗng nhảm nhí & cáu bẩn - hệt con giun loằng ngoằng mải miết - nơi bạn đứng ngồi có một khoảng không - trong khoảng không thơ biện bày đầy đủ nhất - ngay dưới chân - những viên đá mang biểu tượng con người - sự sống chính bài ca của đá” [Những câu thơ của tôi]. Thơ của ông không hề dễ đọc, vì nó không đi tìm sự đồng cảm một cách dễ dãi, đánh vào thị hiếu tâm lý tầm/thông thường của người đọc. Mỗi bài thơ như một suy tư tưởng về kiếp người, về tồn tại, về tình yêu, về hiện tồn và về chính bản mệnh của thi ca. “tôi bọc thời gian ném đi không nuối tiếc - với tôi thời gian chỉ còn là khái niệm hư ảo - tiếng gọi trở nên bất tử - giữa đêm đen này - tôi chẳng thèm ham muốn khác” [Cây tiếng gọi]. Chỉ trong một đoạn thơ ngắn vừa dẫn ra ở trên, ta như bắt gặp hiện tượng luận của E. Husserl, bắt gặp Martin Heidegger trong Hữu thể và thời gian, bắt gặp người làm vườn R.Tagore với những suy tư trong đêm… Nhưng giả sử như bạn đọc không biết tất cả những triết thuyết ấy, thì cũng chẳng sao cả, thơ Hoàng Vũ Thuật vẫn nhẹ nhàng và dễ hiểu như những tiếng nói thầm trong mơ. Tiếng nói ấy sâu lắng, hư ảo nhưng mãnh liệt và gửi cho chúng ta những thông điệp rõ ràng. “Anh trở lại ngôi nhà không mái - phố phường chưa kịp đặt tên - bồ đề dày thêm lá mới - anh trở lại khi em đã xa - trên núi có bài thơ Tự Đức - tấm kính nát vụn sao không nhìn ra em - cánh cổng mở toang nào thấy dáng em - em là nước từ mùa đông qua mùa hạ” [Nửa anh và nửa em]. Vẫn là những bài thơ đầy kỉ/hoài niệm, những tình cảm riêng tư thầm kín, nhưng nhà thơ không trình bày nó dưới những câu từ trập trùng, luyến láy nhấn về xúc cảm, mà ta nhận ra chiều sâu tư tưởng thầm kín trong thơ ông. Chất tình trong thơ Hoàng Vũ Thuật là cội nguồn, là khởi nguyên, nhưng nó được viết nên dưới trí tuệ của một người tích lũy đủ đầy chiều sâu của tư tưởng trong thơ.

Khác với những nhà thơ lí tính, vốn dĩ dùng thơ ca để minh họa cho lý thuyết, cho ý thức hệ, một văn bản có tính luận đề cho triết học, thơ Hoàng Vũ Thuật là sự kết hợp nhuần nhị giữa cảm xúc trữ tình và chiều sâu triết lý trong thơ. Bất cứ bài thơ nào ta vẫn đồng thời nhận ra cả hai khuôn mặt trữ tình và triết lý đó. Ví dụ: “giờ này em là nước con sông mặc người đời ruồng bỏ - tự do chảy ra tứ phía - những con sóng vô hình - nhấn chìm chúng ta - cùng trang sách đầy ký tự trên giá đỡ thư viện - em thường gọi một bảo tàng thế kỷ” [Hẻm sống]. Thế mạnh về triết lý trong thơ ông thực chất đã được khởi đi từ trái tim đa tình, đa cảm, nên nó không khô khan, thô ráp hay mang mục đích thực dụng, ngoại văn chương như những người khác. “năm mươi năm tóc tôi trắng màu cát trắng - thành phố mặc áo tứ thân đi giày cao gót - đàn cá ông không về - chân trời trơ trọi nằm nghiêng” [Người đàn bà xa lạ]. Những diễn đạt dường như khách quan, trừu tượng đầy tính siêu thực, nhưng chất màu vẽ nên bức tranh tưởng chừng như siêu thực ấy lại là nước mắt. Tác giả không nói nhiều về xúc cảm của chính mình, chẳng hề có một tính từ nào về cảm xúc của chủ thể trữ tình, nhưng ta vẫn nhận ra sự xót xa, bất lực, bẽ bàng trước thời gian chỉ qua câu “năm mươi năm tóc tôi trắng màu cát trắng” – đó là sự đánh mất thời gian. “đàn cá ông không về” là sự đánh mất không gian. Con người bơ vơ giữa cuộc sinh tồn. Thời cuộc thay đổi, không gian biến thiên, thời gian không còn quay trở lại, nỗi buồn tự đó dâng lên từ đáy lòng. Con người ta sống rồi sẽ chết như một quy luật, nhưng con người từ chối sự tan rã của thân xác mình một cách sinh học, bởi vì họ là sinh vật có ý thức và tư tưởng. “dựng ngược thân thể anh chiếc bình đắng cay - tổ ong rừng khô cạn mật - những ống xương rỗng rễnh hai đầu - nơi bắt đầu của gió” [Gió hoang]. Sự chết đôi khi lại là một khởi đầu mới mẻ, theo nghĩa đó, thời gian và sinh mệnh được tuần hoàn. Tuy nhiên, cảm thức tái sinh, chữa lành cũng là sự suy tư triết lý thường trực và dễ hiểu ở vào độ tuổi của người thơ. Trong tập thơ, bên cạnh nỗi u buồn thường trực – giọng điệu vốn dĩ được xem là phù hợp nhất với thi ca, còn là khát vọng mãnh liệt của tình yêu như một sự lắng đọng chứng ngộ cuối đời. “nấp sau cánh hoa áng mây nói lời em bối rối - tiếng đàn trầm nở làn hương em - anh thấy cuộc đời đang mọc... - ta sẽ xây tổ sống trên mọi hành tinh băng giá - bầu trời rạng rỡ nảy sinh nơi lồng ngực em - đàn chim dậy thì líu lo trên tóc em” [Đêm huyền vi].


  1. 2.      Cảm quan đời tư thế sự

Điều tôi chú ý nhất trong tập thơ của Hoàng Vũ Thuật đó là xu hướng đời tư thế sự trong cảm quan về cuộc đời. Đây có thể là một điểm mới lạ, cách tân so với chính mình của tác giả. Thông thường thơ Hoàng Vũ Thuật cố gắng đi vào chiều sâu của chiêm nghiệm và triết lý, chính vì thế vũ trụ thơ thường gắn với những phạm trù phổ quát, bao trùm. Cho đến tập thơ Cây xanh ngoài lời, có thể tác giả dưới phương châm “mọi lí thuyết chỉ là màu xám” nên thôi thúc ông quay về với những điều nhỏ nhặt, thường nhật của cuộc sống. Những sự kiện mà ai rồi cũng nếm trải trong cuộc đời/chơi, nó làm nên những giá trị vô hình cho hiện hữu. Đó có thể là một cuộc hội ngộ văn chương với một người bạn văn trẻ tuổi (nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng ở Huế), có thực trên cuộc đời này, nói về những điều bình dị nhất: “hôm qua Lãm nói với ông bao chuyện nhảm vỉa hè - Lãm bảo cái gì đáng nhớ ông ấy nhớ - cái gì ông quên nhớ để làm gì - nhớ kẻ đứng đái bên đường hơn người ngồi trong lâu đài mờ ảo - nước từ nơi đó có mùi thơm - nhớ bà cụ nằm đối diện liệt nửa người và cô con gái út tên Uyên - tóc bà sáng đêm mất điện” [Chuyện của ngàn năm trước]. Đó cũng có thể là sự lo âu về thực tại phi nhân của thế giới, nơi những cuộc xung đột đẫm máu do sự kiện Mùa xuân Arab gây ra, mà đặc biệt là cuộc xung đột tại Syrie đã khiến dòng người di cư khổng lồ vượt biển Địa Trung Hải, làm chết đến 3500 người chỉ do đắm tàu: “bập bênh trên mặt Địa Trung Hải - trò chơi bầy đàn - đánh số từ một - những xác chết nổi loạn - trong tấm áo tơi tả nàng là mặt trời - đen và đặc” [Sự nổi loạn của xác chết]. Sự can dự của nhà thơ lúc này không chỉ là trên địa hạt ngôn ngữ và mỹ học, mà còn là những quan tâm quan thiết của người trí thức, người công dân đến vận mệnh sống còn của môi trường, của đất nước, của nhân vị con người mang tầm vóc nhân loại trước những cuộc đại suy thoái và hủy diệt tương tàn đầy phi lý đẫm máu.

Chính vì cảm hứng đời tư thế sự này, nên đã góp phần “giải mỹ học” cái đẹp, cái lãng mạn, cái siêu tuyệt trong truyền thống thơ Hoàng Vũ Thuật. Trong thi phẩm, ta có thể thấy ông mạnh dạn sử dụng chất liệu ngôn ngữ, hình tượng phi chuẩn mực, phi lãng mạn như một dụng ý đầy toan tính. “sự hoàn thiện của bông hoa chế tác - cánh lả lướt chào mời - không thể tô thêm làn hương giả tưởng - tôi muốn cắm vào chiếc bình gốm cổ - đóa cứt lợn thanh sạch góc vườn - nở bên gốc ổi chiều qua” [Có những điều tưởng như là thói quen] (YT nhấn mạnh ở mọi chỗ trong tiểu luận này). Hoặc là: “thơ cao sang mà cũng chẳng cao sang gì - cứ trải thơ thành manh chiếu rách cho người hành khất khốn khổ của bạn - đôi đũa gãy bữa cơm thiu - cái bô dưới chõng tre cà vạt thơm trên cổ - thơ mặc áo và thơ trần truồng” [Viết]. Chính vì những đặc trưng này, mà ta có thể nhận định Hoàng Vũ Thuật đã vắt chân để bước từ tiền hiện đại sang hiện đại và hậu hiện đại trong tư duy và ngôn ngữ thơ.

Thái độ công dân của nhà thơ trước thời cuộc, vận mệnh của đất nước có thể xem là cảnh giới thử thách nhà thơ Việt Nam đầu thế kỉ XXI. Mỗi trí thức có lương tri trong thời điểm này không thể đứng ngoài những mối quan tâm liên quan đến biển đảo, môi trường biển và thân phận dân tộc trước các dã tâm ngoại bang. Những sự kiện ấy động vọng trực tiếp vào thơ Hoàng Vũ Thuật một cách tự nhiên, tất yếu, nhưng không hề lên gân, không phát ngôn sống sượng hoặc nặng về tính thời sự. Những bài thơ đầy trách nhiệm công dân, nỗi đau đáu thời đại của Hoàng Vũ Thuật vẫn đầy ẩn ý, hình tượng suy tưởng: “chúng nó dùng súng và lưỡi lê - bạch tuộc phun vòi xác chết - những chú chim non vỗ cánh đầu tiên - những đôi mắt lũ còng ngơ ngác - số phận ngọn đèn lịm tắt - không còn súng thì ném cát vào mặt - ngôi mộ gió khuyết dần - không còn ngôi mộ gió - Tổ quốc trong muối biển vẫn còn” [Đảo]. Nhà thơ kêu gọi thi nhân hãy dùng ngòi bút của mình để thể hiện thái độ trước thời cuộc, khêu dậy tình yêu nước, lòng tự cường dân tộc. “những chữ cái thiết lập trang sử khôi nguyên - những chữ cái làm chân đế đồng bào - những chữ cái rịt lại vết thương nhức nhối - những chữ cái thức dậy linh hồn đã khuất - những chữ cái tô đậm đất liền biển đảo - những chữ cái cắm cột mốc chủ quyền - hãy viết cho chính bạn” [Viết].


 

  1. 3.      Sự quy hồi về cội nguồn văn hóa dân gian

Điểm đáng chú ý khác, cần tỏ bày với bạn đọc trong tập thơ mới của Hoàng Vũ Thuật, đó là sự quy hồi về nền tảng văn hóa dân gian, chất liệu sử thi truyền thống trong thơ ông. Tôi nghĩ, đây có thể là một cách tân có tính chất “cũ người mới ta” đáng chú ý nhất, mang đóng góp đáng kể nhất trong tập thơ này. Theo nghĩa đó, bài thơ hay nhất cho toàn tập thơ đó chính là bài mở đầu, mang tên Tôi muốn nói bằng tiếng nói Tổ quốc tôi. Ở bài thơ này, bạn đọc dường như phát hiện ra một Hoàng Vũ Thuật khác, không tân kì, không suy tưởng triết lý dạng Âu châu, mà rất gần gũi, sâu lắng trong từng câu chữ, hình tượng. Hoàng Vũ Thuật cũng như những trí thức lớn như Phạm Duy, Lê Bá Đảng, Điềm Phùng Thị… vào giai đoạn chiêm nghiệm cuối đời, khi gần như đã lãng du qua gần hết những cái gì có thể gọi là tân kì, hiện đại và thậm chí là hậu hiện đại của trời Tây, sẽ quay về lại cố hương, tìm trong nguồn cội dân gian chỗ náu mình, kết tủa. “mẹ ra chợ - gánh theo mưa nắng - mồ hôi đẫm - mồ hôi -muối mặn - lá trầu tươi hình trái tim - trái cau hình giọt máu - lặn sâu trong lồng ngực lép nhọc nhằn - những âm thanh Tổ quốc kẽo kẹt - những âm thanh bền lâu - tôi hằng ôm ấp - tôi lớn khôn khi hiểu chiếc lưỡi cày - cày vào đất những dòng bí ẩn” [Tôi muốn nói bằng tiếng nói Tổ quốc tôi]. Chính vì đặc trưng này, tôi mới hình dung về thơ Hoàng Vũ Thuật như khối rubic xoay đầy sắc màu sáu mặt. Sự đa diện về tư tưởng, linh động chuyển đổi giữa các hệ hình thơ như một mê cung của văn hóa và tư tưởng, tạo ra một giá trị nghệ thuật chỉnh thể không rốt ráo đứng về một phía nào trước những đường biên văn học. Những hình tượng như sau thật quen thuộc, thật truyền thống, nhưng lẽ nào chúng lại cũ kĩ nhàm chán trong thơ? “tôi nhìn Tổ quốc qua nét phấn người thầy - lối tắt chim bay - vòng quay tịnh tiến - nghe chuyện thần kỳ voi chín ngà gà chín cựa - ngựa phi về trời - đôi hài tôi - mỗi bước đi vạn dặm - chiến tranh liên miên giặc dã liên miên - ông cha viết - Hịch Tướng Sĩ Văn - lại viết thêm - Bình Ngô Đại Cáo - còn viết nữa - chưa thôi - những âm thanh thao thức lòng người”. Những nốt nhạc quen thuộc ấy, lẽ nào đặt trong bối cảnh đương đại ngày nay không gợi/gợn lên cho bạn bất cứ xúc cảm hay thông điệp đương đại gì? Tôi tin rằng bạn đọc sẽ anh minh và tinh tế hơn tôi nhiều trong việc này.

Theo dõi hành trình sáng tạo thi ca của thi giới, tôi nhận ra thông thường người mới làm thơ thường xoáy mình vào trong chất sử thi, dân gian theo lối đại tự sự, khi trái tim cuồng nhiệt, tình yêu lớn lao bùng cháy trong trái tim. Thế hệ thơ chống Mỹ mà tiêu biểu là trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm là đại diện tiêu biểu nhất cho xu hướng này. Sau đấy, trước những va chạm, đổ vỡ và sự chà xát của nỗi cô đơn, mỗi thi nhân sẽ quay về lại với cái tôi bản thể, nỗi đau cá nhân thông qua cảm hứng đời tư thế sự. Lúc này, ta có thể lấy ví dụ là tập thơ Một tiếng đờn của Tố Hữu. Nhưng khi đạt đến một ngưỡng chín nhất định của sự nghiệp, sự thăng hoa trong ngòi bút ngoài dòng máu nóng của con tim còn là sự lấp lánh của trí tuệ, nhà thơ một lần giữa “lại giống” và “tái sinh” trong cội nguồn dân tộc, trong những điều lớn lao nhưng không là đại tự sự nữa. Đọc thơ Hoàng Vũ Thuật trong thi phẩm Cây xanh ngoài lời, chúng ta hoàn toàn có thể dễ dàng nhận ra khuynh hướng này. “khi tôi chết - tôi cũng là Tổ quốc - được sống cùng sương - ruỗi rong - cùng gió - giọng điệu của dế kể chuyện canh khuya - ngôn ngữ phiêu du mây bạc - tôi lắng nghe - thiêng liêng nếu Tổ quốc kêu gọi - như người lính sẵn sàng - đứng bên đồng đội - chẳng ai thấy tôi có mặt trên đời - Tổ quốc vĩnh hằng thế đó bạn ơi”. Cuối cùng, chỉ trong một tập thơ, chúng ta có thể thấy cả hành trình thơ ca và hành trình tư tưởng của tác giả. Điểm đích cuối cùng có thể cũng chính là điểm khởi đầu và là điểm kết thúc của tất cả chúng ta. Đó là lòng yêu nước, sự trân trọng vận mệnh mẹ Tổ quốc thân yêu. “con thương Tổ quốc thời loạn lạc - giặc ở bên hông giặc ngủ trong nhà - con thương Tổ quốc - chiếc đòn gánh hai đầu mưa sa - sao đường đi chênh vênh heo hút - vẹt mòn bàn chân mẹ” [Đám tang của biển].

Dĩ nhiên, một tập thơ không bao giờ thoát khỏi những giới hạn tất yếu của mỗi đời người, đời thơ. Đôi chỗ chúng ta vẫn bắt gặp những hình ảnh lạc ra khỏi chỉnh thể, hoặc đôi từ hình như chưa được tác giả trau chuốt lựa chọn. Việc tặng thơ quá nhiều trong tập thơ này cũng có thể làm cảm giác và trải nghiệm đọc của bạn đọc bị giới hạn đi, bài thơ trở nên riêng tư hóa chứ không dành cho tất cả mọi người. Nhưng hình như Hoàng Vũ Thuật hiểu tất cả những điều đó, và ông vẫn cố tình làm như vậy. Khối rubic xoay sáu mặt, đôi khi để muốn đạt đến cái chung cục cuối cùng, tìm ra chỉnh thể hòa đồng, thống nhất, nó buộc ta phải đi qua nhiều bước đệm trung gian, gồ ghề, trả giá. Tôi tin bạn đọc, theo cách xoay của riêng mình, sẽ còn tìm thấy những điều khác, giá trị khác trong tập thơ này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

Y.T


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Mười Một 20186:31 SA(Xem: 112)
Tuyển tập “Thơ Trần Dạ Từ - 60 Năm” do Việt Báo Foundation Hoa Kỳ, xuất bản lần thứ nhất: Khổ lớn, bìa cứng, dầy trên 400 trang. Ấn phí 25 Mỹ Kim. Cần thêm chi tiết, xin gọi: (714) 894-2500.
05 Tháng Mười Một 20189:28 SA(Xem: 108)
trong chừng mực nào đó, tôi trộm nghĩ “Thi Tuyển Trần Hoàng Vy” có thể chịu được sự đọc lại.
22 Tháng Mười 201810:18 SA(Xem: 72)
Lang thang dạo facebook, tôi “gặp” “Quê Trong Phố” của nhà thơ Nguyễn Xuân Môn.
13 Tháng Mười 20189:11 SA(Xem: 337)
Khi cầm trên tay tập thơ "Sự tĩnh lặng của nước" của tác giả Trần Duy Trung,
24 Tháng Chín 201810:02 SA(Xem: 255)
Thơ Nguyễn An Bình không chỉ song hành với những đốm lửa đìu hiu phượng vĩ hay, nơi chốn, kỷ niệm… với phông nền tình yêu thao thiết, mà, còn nhiều, hơn thế nữa.
19 Tháng Chín 20189:25 SA(Xem: 179)
Phát Dương là một cây bút sinh năm 1995 tại Bạc Liêu - - Hiện đang theo học ngành Văn học tại trường Đại học Cần Thơ
29 Tháng Tám 201811:35 SA(Xem: 203)
Tìm mua trên Amazon.com Search Keywords: Hong dang tai amsterdam
21 Tháng Tám 20189:04 SA(Xem: 198)
Đọc chưa qua một "Đêm nguyệt bạch" tập truyện ngắn của Lê Trâm, sách đầy đặn hơn 220 trang in, gồm 16 truyện ngắn, do NXB Trẻ cấp phép
06 Tháng Tám 20189:12 SA(Xem: 197)
Muốn mua sách xin vào amazon.com gõ tên sách. Có thể liên lạc với tác giả: dpp653@yahoo.com
30 Tháng Bảy 20189:25 SA(Xem: 530)
Tiểu thuyết đã viết rất mực xuất sắc. Và cũng rất mực tuyệt vời đau đớn…
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 18999)
Nếu tính từ năm Đinh Hùng in “Mê Hồn Ca” 1954, cho tới “Đường Vào Tình Sử” 1961 thì hai thi phẩm cách nhau gần 7 năm trời.
(Xem: 22137)
Năm 1954, thi sĩ Hồ Dzếnh, giám đốc nhà xuất bản “Tiếng Phương Đông,” sau đổi lại là “Bình Minh,” cho in thi phẩm “Mê Hồn Ca” của Đinh Hùng.
(Xem: 21994)
Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3-7-1920 tại làng Trung Phụng, ngoại ô thành Hà Nội. Ngôi làng này nằm ngay sau lưng khu phố Khâm Thiên.
(Xem: 20140)
Cảm nghĩ của tôi về Đinh Hùng trước khi được tiếp xúc với ông, ở hai trạng thái thật dị biệt
(Xem: 377)
Nhạc phẩm đầu tiên ông sáng tác lúc mới 13 tuổi là bài ‘Mẹ Tôi’,
(Xem: 238)
Tôi rất cảm phục cách Thi Sĩ đặt tựa đề cho bài thơ, “đêm, treo ngược tôi: dấu chấm than!”
(Xem: 5496)
Du Tử Lê nói ông chỉ muốn im lặng. Trong phần hỏi-đáp rất ngắn dưới đây, nhà thơ Du Tử Lê có giải thích về sự im lặng của ông, với nhiều ngụ ý.
(Xem: 725)
Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.
(Xem: 12082)
Đứng giữa gian hàng, trên một bục gỗ cao phủ khăn trắng nuốt, người thiếu nữ trông nổi bật hẳn lên với trang phục tuy rực rỡ sắc mầ
(Xem: 1545)
Theo thiển ý cá nhân tôi, thơ Du Tử Lê khá "hiền!"
(Xem: 463)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 542)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20385)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 15198)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 12760)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 16020)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 14055)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 12519)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 10502)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 9730)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 9871)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 9061)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 8641)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 9926)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 15084)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 21501)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27291)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 18768)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 19875)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 24095)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 21844)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 18231)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
1,975,946