Trước 1975, có 2 nghệ sĩ đa tài, thổi sáo hay nổi tiếng, ấy là Tô Kiều Ngân và Nguyễn Đình Nghĩa. Tô Kiều Ngân giỏi ở nhiều lĩnh vực, mà bất cứ ai quen nghe chương trình Tao Đàn trên sóng phát thanh thời trước đều biết ông.
Nhà văn quân đội Văn Quang nhớ lại, 2012: “Lâu lắm, tôi không gặp anh Tô Kiều Ngân, mặc dù chúng tôi cùng ở Sài Gòn. Được tin anh qua đời vào ngày 20/10 vừa qua, tôi ngỡ ngàng. Tôi gọi điện cho Huy Sơn ở Mỹ vì Huy Sơn và Tô Kiều Ngân cùng tôi từng có thời gian dài cùng làm việc trong tòa soạn 3 tờ báo của quân đội. Sau này, Huy Sơn sang Bộ Tư lệnh Không quân làm báo với Hoàng Song Liêm, rồi sau khi ở tù cải tạo, đi Mỹ theo diện HO”.
Tô Kiều Ngân và Văn Quang không đi theo diện HO, mỗi người có một lý do riêng. Theo Văn Quang, Tô Kiều Ngân ở lại, có gia đình vợ con, có nhà cửa đàng hoàng; còn chính Văn Quang thì lông bông ở trọ, ở chui hết trong chợ Bàn Cờ đến chợ Trương Minh Giảng rồi chợ An Đông, cuối cùng về chung cư Nguyễn Thiện Thuật và là “dân ABC đi ở thuê” với 4-5 cái “không”.
Ông Văn Quang không rõ ông Tô Kiều Ngân được thả về năm nào và cũng không biết ông ở đâu. Cái ngõ Phan Văn Trị, nơi Tô Kiều Ngân ở trước kia, Văn Quang có đến một hai lần, nhưng không chắc ông còn ở đó. Sau này mới biết tin Tô Kiều Ngân ở mạn Bình Thạnh và rất ít khi lên khu trung tâm thành phố gặp bạn bè. Ông có những nơi vui chơi riêng ở miền ngoại ô. Cho đến khi vợ chồng ông Trần Thiện Hiệp, một người bạn chung, tổ chức kỷ niệm Lễ Thành hôn vàng, khoảng năm 2007-2008 thì Văn Quang mới gặp lại Tô Kiều Ngân. Ông có vẻ khỏe mạnh hơn lần cuối hai bên gặp nhau trong trại ở Sơn La, vào khoảng năm 1977-1978.
Văn Quang viết: “Anh Tô Kiều Ngân không ở cùng trại với tôi, anh đi lao động bị ngã gẫy tay, phải đưa về trạm xá gần trại tôi ở từ năm 1976 khi được đưa ra Sơn La. Có lẽ nhiều thính giả và độc giả biết đến anh Tô Kiều Ngân qua Tiếng Sáo Tao Đàn hơn là biết đến đời lính của anh. Tôi thì khác, tôi biết anh từ khi cùng làm chung trong mấy tờ báo của quân đội…”.
Trở lại chuyện xưa, khi Văn Quang mới được lệnh về Nha Chiến tranh Tâm lý lúc đó còn trực thuộc Bộ Quốc phòng quân đội Sài Gòn, sau này đổi tên thành Tổng cục Chiến tranh Chính trị trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, từ năm 1957 thì bắt đầu làm Trưởng ban Báo chí. Hồi đó, Tô Kiều Ngân phụ trách tờ báo có tên là Quân Đội, sau này đổi tên là CSCH, ra nửa tháng một kỳ. Báo dành chung cho mọi quân nhân. Ngoài ra còn tờ nguyệt san Phụng Sự, dành cho sĩ quan do Huy Sơn phụ trách. Tòa soạn vỏn vẹn chỉ chừng 10 người, bởi việc in ấn đã do nhà thầu đảm nhiệm hàng năm. Sau này, khi Cục Tâm lý chiến về đường Hồng Thập Tự mới có thêm Huy Vân, Tường Linh, Vũ Công Uẩn, rồi còn có cả Đỗ Tốn, tác giả Hoa Vông Vang trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, cũng về làm việc tại Ban Báo chí. Nhưng ông chỉ đến cho có mặt rồi lại phóng xe đi. Đỗ Tốn lớn tuổi và cũng là nhà văn thuộc hệ đàn anh, vả lại ông về đó chẳng còn bao lâu thì đến ngày giải ngũ. Sau nữa, có thêm Thanh Nam về làm báo CSCH cùng.
Khi mới bước chân vào làm báo, ông Văn Quang tự nhận mình chỉ là "anh viết lách", chưa hề quen với nghề nghiệp này. Công việc mới tuy có thích hợp với khả năng và mong đợi của ông, nhưng thật ra nghề làm báo chẳng giống nghề viết lách tí nào. Nghề đọc văn người khác, chọn bài và sửa bài không hề dễ dàng. Văn Quang nhớ lại: “Bài học đầu tiên trong nghề làm báo của tôi là gì? Đó là nghề sửa morasse, tức là làm “thầy cò”. Những năm ấy, tất cả báo chí VN còn in typo, sắp chữ bằng tay rồi làm bản kẽm, hình ảnh thì làm cliché cho vào khuôn. Báo quân đội không phải kiểm duyệt nên không bị đục bỏ. Tuy nhiên làm thầy cò cũng không dễ. Phải biết các ký hiệu thay thế chữ nghĩa. Ngoài ra còn phải biết dàn trang, biết trình bày từng bài dài ngắn sao cho đúng khuôn khổ tờ báo. Đó là chút xíu về kỹ thuật mà tôi phải học qua anh Tô Kiều Ngân. Tôi và anh ấy lẫn Huy Sơn cùng phải sửa morasse, nhưng đến dernière morasse (Bản vỗ cuối) cho nhà in chạy máy thì tôi phải ký”.
Cuộc đời binh nghiệp của Tô Kiều Ngân khởi thủy từ khi làm tờ báo Tiếng Kèn ngoài Huế. Năm 1953, ông được đồng hóa vào quân đội và đưa gia đình từ Huế vào Sài Gòn. Như đã nói, hai người cùng làm chung trong Ban Báo chí từ năm 1957, lúc đó Tô Kiều Ngân mang cấp chuẩn úy. Cho đến khi dọn về Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè, một năm sau, Văn Quang được lệnh đi Quân khu 3 thành lập đại đội văn nghệ cho quân khu này dưới quyền tướng Đỗ Cao Trí - Đại đội này có cả sự đóng góp rất quan trọng của nhạc sĩ Anh Bằng. Bỗng một buổi sáng, vào khoảng năm 1960, Văn Quang được lệnh trở lại Ban Báo chí. Khi về tòa soạn, ông mới biết Tô Kiều Ngân vừa được thuyên chuyển đi đơn vị khác, cũng trong ngành CTCT, không hề biết vì lý do nào, có thể vì nhu cầu công vụ và cũng có thể vì những lý do khác. Rồi Tô Kiều Ngân đến tuổi được giải ngũ năm 1974, khi mang cấp Thiếu tá phục vụ tại Phòng CTCT trường Võ bị Đà Lạt. Lúc đó, để đáp ứng quân số tăng, quân đội có hơn một triệu quân nhân, tờ CSCH phát hành 200.000 số một kỳ, tính ra mỗi tiểu đội được một tờ. Sau đó vì nhu cầu tin tức chiến trường ngày một cao, phải làm thêm tờ TTCS, ra khổ lớn hơn, tuần 1 kỳ gồm 8 trang.
Khoảng thời gian Văn Quang và Tô Kiều Ngân làm việc với nhau chừng hơn 3 năm và có khá nhiều kỷ niệm thời trai trẻ. Tô Kiều Ngân rất tài hoa và cũng đào hoa, nhưng ông rất ít khi đi ăn chơi cùng Văn Quang và nhiều đồng nghiệp khác. Ông hơn Văn Quang đến 6 tuổi và đã có gia đình nên chơi phải khác với cánh còn “xê-li-bạt” (*). Hồi đó Huy Sơn và Văn Quang còn rách như cái mền, nhưng cứ mỗi thứ Bảy Chủ nhật lại ngứa chân muốn đi nhẩy, vài lần rủ Tô Kiều Ngân, ông cũng không chịu đi. Ông dành thì giờ cho ban Tao Đàn.
Đó là khoảng thời gian từ 1957- 1960, Tô Kiều Ngân là một trong những nhân vật chủ chốt của ban Tao Đàn ở Đài Phát thanh Sài Gòn. Với hơn 20 năm ông trong đời quân ngũ (1953-1974), thì Tao Đàn đối với ông chỉ là một cuộc chơi. Nhưng cuộc chơi ấy vẫn để lại dấu ấn đậm nét nhất, đáng giá nhất trong cuộc đời ông và thi ca Việt.
Cây bút Phan Lạc Phúc viết: “Người khai sinh và điều khiển chương trình Tao Đàn, như cả nước đều biết, là thi sĩ Đinh Hùng. Chương trình Tao Đàn có thể chia ra làm bộ phận. Bộ phận quan trọng nhất là ban biên tập và diễn đọc gồm Đinh Hùng, Thanh Nam, Thái Thủy; vài năm sau có Huy Quang Vũ Đức Vinh từ Nha Trang vào cộng tác. Bộ phận thứ hai là ban ca ngâm gồm những tài tử nam, nữ trình diễn thường xuyên hay tùy hứng. Người “đa năng” nhất trong ban Tao Đàn là Tô Kiều Ngân. Anh vừa là tài tử diễn ngâm, vừa biên tập, vừa trong ban nhạc. Tiếng sáo Tô Kiều Ngân réo rắt thường được coi là “indicatif” của Tao Đàn, hợp cùng tiếng đàn thập lục trầm bổng của Bửu Lộc, tiếng piano trầm ấm trước của Ngọc Bích, sau của Phạm Đình Chương. Về giọng ngâm nam ngoài họ Tô, còn có Hoàng Thư; một thời giọng ngâm Thanh Hùng cũng có góp tiếng trên đài. Tô Kiều Ngân tuy giọng không khỏe nhưng anh là người ngâm “khéo” nhất, ngâm giọng Bắc, giọng Trung đều nhuyễn. Hoàng Thư có chất giọng say sưa, mạnh mẽ được đời nhớ mãi trong Bài Ca Ngư Phủ của Vũ Hoàng Chương. Thanh Hùng với giọng thổ pha kim, xuất sắc trong những tác phẩm bi hùng. Có những giọng ngâm không có mặt lâu năm trên đài nhưng vẫn được đời ghi nhớ như Quách Đàm trong những bài lục bát hay Thiếu Lang trong Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác. Về giọng ngâm nữ, lúc khởi đầu phải nhắc tới nét ngọt ngào của Giáng Hương nhưng các tay sành điệu đều không thể nào quên giọng ngâm đổ hạt đặc sắc của bà Đàm Mộng Hoàn, một danh tiếng vang lừng tại Khâm Thiên tiền chiến trong Tỳ Bà Hành. Giọng ngâm nữ nhiều năm làm thổn thức trái tim thính giả là Hồ Điệp trong những bài thơ nức nở Tê-Tê-Ka-Hát. Về sau có một giọng nữ như sương như khói làm khởi sắc những vần ca dao dân tộc và những bài ca huyền sử. Đó là giọng ngâm Hoàng Oanh”.
Thật ra, theo Văn Quang, Tô Kiều Ngân hoạt động trong nhiều lĩnh vực, làm báo, viết văn - Tác phẩm đầu tay của ông là tập truyện ngắn Người Đi Qua Lô Cốt - làm thơ, ngâm thơ, các bài sáo ông thổi ở Tao Đàn do chính ông sáng tác và đã xuất bản. Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là bài Tiếng Sáo Tao Đàn. Bây giờ người ta nhớ đến tài năng tuyệt vời của ông vì tiếng sáo đó và giọng ngâm thơ mang âm điệu Huế hơn tất cả những thứ khác. Nếu so sánh với tiếng sáo của Nguyễn Đình Nghĩa, theo nhận xét của Văn Quang, mỗi người có một cái hay riêng. Tiếng sáo của Tô Kiều Ngân cất lên theo cảm xúc từ bài thơ của từng tác giả và theo cả phong cách riêng của người ngâm nên bay bổng và dễ làm rung động lòng người. Tiếng sáo Nguyễn Đình Nghĩa lại hay về bài bản. Nếu nghe ông thổi một bài như Thiên Thai, rất điêu luyện. Nhưng nhiều thính giả vẫn nhớ họ Tô hơn.
… Nhận được tin Tô Kiều Ngân mất, sau khi điện thoại cho Huy Sơn và Hoàng Song Liêm, Văn Quang gọi cho Hàm Anh, còn có bút danh Sài Gòn Cô Nương, con gái nhà phê bình Thượng Sĩ, trước đây ở cùng xóm Phan Văn Trị với gia đình Tô Kiều Ngân. Họ mang vòng hoa tới căn nhà khá đẹp của gia đình ông ở trong một xóm nhỏ thuộc quận Bình Thạnh. Người đón tiếp rất vồn vã chính là bà quả phụ Tô Kiều Ngân. Nhưng Văn Quang đã đọc cáo phó của gia đình trên một tờ báo nước ngoài. Nếu chú ý, sẽ thấy một chi tiết hơi lạ. Đó là có tới 2 bà cùng ký tên chung là vợ. Một bà là Phạm Thị Thìn, một bà là Lê Thị Kim Hoa. Một sự “chính danh” ít thấy trên bản cáo phó nào.
Lâu quá không gặp, ông Văn Quang phải lựa lời khơi gợi lại chuyện cũ xem có đúng bà mà ông thấy lúc đó có phải là “đệ nhất phu nhân” thời xưa không. May quá, đệ nhất phu nhân Tô Kiều Ngân nhận ra Văn Quang ngay. Bà ân cần nắm tay thân thiết. Các con trai, con gái Tô Kiều Ngân, cả dòng trước dòng sau, cũng thân mật như vậy. Con gái lớn của ông - Là vợ của nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan, mất cách đây nhiều năm (JMS) - cũng tới thăm hỏi. Khi ra đi, Tô Kiều Ngân là người cuối cùng cộng tác thường xuyên, là trụ cột của ban Tao Đàn nay đã nối bước nhiều bạn bè. Nhà văn Tạ Quang Khôi tính nhẩm: “Thi sĩ Đinh Hùng, trưởng ban Tao Đàn của Đài Phát thanh Saigon, mất năm 1969 vì ung thư bao tử. Hoàng Thư, một giọng ngâm nam rất truyền cảm, mất khoảng 1982 ở Sài Gòn. Hồ Điệp mất tích trên đường vượt biên. Thanh Nam qua đời năm 1985 ở Seattle (Tiểu bang Washington) vì ung thư cuống họng. Huy Quang Vũ Đức Vinh mất cuối năm 2005 vì bị tai biến mạch máu não trong khi bác sĩ đang giải phẫu ở Seattle. Thái Thủy ra đi vì ung thư phổi ở Nam Cali cũng từ năm 2009…”.
Văn Quang viết: “Ừ, bây giờ là 2012, thì từ biệt Tô Kiều Ngân, từ biệt nhóm Tao Đàn nhưng tiếng sáo, giọng ngâm của Tao Đàn vẫn còn lại mãi trong đời sống thi ca Việt Nam và trong lòng người Việt yêu thơ khắp nơi”.
_____
* Célibataire




