NAM DAO - 49 ngày Dương Nghiễm Mậu

20 Tháng Chín 20211:23 CH(Xem: 1174)
NAM DAO - 49 ngày Dương Nghiễm Mậu
Lạnh chưa?
Rồi
Thế thì tốt!
Du nhắm mắt, cười mỉm trước vô tận. Bấc đèn dầu sắp lụi chập chờn hiu hắt. Mưa rả rich. Cả một cuộc đời bỗng thoắt biến thoắt hiện. Đầy ngẫu nhiên. Cứ tạm gọi là số mệnh. Hay nghiệp, đã mang lấy nghiệp vào thân.
Tự Truyện Nguyễn Du, Nghiễm cười, bắt đầu như thế.
Hay gần như thế!'

&
Chúng tôi bước lên lầu 2 một cái quán bia vắng người khu nhà thờ Ba Chuông. Ông chủ quán đon đả, quen mặt Nghiễm, chưa gọi đã mang bia ra.
Anh đến đây thường?
Không, đôi ba tháng một lần, khi có bạn và cần chỗ vắng vẻ dễ chuyện trò. Nghiễm cười, bạn thì cực hiếm, thời này!
Thời này? Hẳn là vậy. Khi niềm tin rã nát, tương lai nào cũng mang hình dạng ảo vọng, lếch thếch quần chằng áo đụp, bôi mặt phường chèo xưng ta là đấng quân vương, giữa ngã tư đường chỉ trỏ xe chạy ngược xuôi kiểu một Bùi Giáng giả điên?
Nghiễm nhếch môi, tôi hẹn uống với nhau sau khi nhận hai tập Bể Dâu bạn gửi tặng, nay xin mời. Nâng ly, Nghiễm tiếp, uống rồi tôi hỏi bạn vài câu, mặc dầu thế là tôi phá lệ, chẳng bao giờ bàn về văn chương người khác.

&
Nghiễm cũng lật ngược lịch sử truyền tụng để đặt lại những vấn đề về con người, xã hội, thể chế chính trị... Trong tác phẩm Nhan Sắc, anh không cho Từ Hải chết đứng, trốn được và tiếp tục làm một kẻ nổi loạn chống lại bạo quyền. Anh để Kinh Kha cầm dao trủy thủ, nhưng không giết Tần Thủy Hoàng, vì nó chết thì lại có một bạo chúa khác, và chẳng có gì thật sự đổi thay. Anh đứng trước hai con đường, một đến vùng cứ tạm gọi là tự do, còn đường kia là đến vùng giải phóng. Một bên giam hãm đày đọa. Một bên là cái chết. Nghiễm thở ra: "... giờ đâu phải là thời của Kinh Kha... nhiều đất Tần bất trắc, nhiều Tần Thủy Hoàng, nhiều sông Dịch phải vượt qua...’’\. Bây giờ lựa chọn con đường nào? Nghiễm cứng cỏi: " Tôi từ chối chọn lựa cả hai con đường ấy. Ai buộc chúng ta phải chấp nhận con đường có sẵn?...’’
Nhưng con đường nào? Vào thập niên 60 thế kỷ trước, những người trí thức có ý thức trách nhiệm chắc hẳn có đi tìm, nhưng kết quả thì hầu như tất cả đều bị trói buộc vào những sơị nhợ kiểu một bên là tiền đồn thế giới tự do, bên kia là đỉnh cao của nhân loại. Có kẻ nhơn nhơn phát ngôn ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc. Có kẻ há mồm gào thét hô hào Bắc tiến, lấy máu tô cho ngọn cờ tự do dân chủ... Chiến tranh vây bủa dân tộc mình như một lời nguyền truyền kiếp, và anh Nghiễm ơi, có thực sự là anh được lựa chọn gì không?'''

&
Khề khà.
Tôi hiểu cái thảm kịch của Nguyễn Trãi trong Đất Trời của bạn. "Xét như nước Đại Việt ta/ Thực là một nước văn hiến/ Cõi bờ sông núi đã riêng/ Phong tục Bắc – Nam cũng khác’’. Tuyên ngôn độc lập đã có từ 4 thế kỷ trước, đâu có cần đợi đến ngày 2/09 năm 1945. Nhưng rồi tổ chức thể chế thế nào, xã hội ra sao? Trãi trăn trở, và mặc dầu trước tác Quốc Âm thi tập bằng chữ Nôm, người cũng đành buộc phải theo vết Hồ Quí Ly, du nhập hệ Tống nho phong kiến, kiểu quân quân thần thần phụ phụ tử tử, tức vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con. Thắng giặc Minh trên mặt quân sự, nhưng thiếu một ý thức hệ khu biệt, Trãi đành phải du nhập văn hóa chính trị xã hội của giặc. Và thế, kết cục là thua.
Tiếp tục khề khà, thế còn Gió Lửa? Gió Lửa viết trong bối cảnh Trịnh -Nguyễn phân tranh, Tây Sơn khởi nghiệp và cuộc xâm lăng của nhà Thanh. Nhưng điểm chính là thuật lại cuộc nhỡ tàu canh tân cách đây hơn 200 năm trong khi Nhật Bản đã kịp vươn mình thoát khỏi cái ách văn hoá Khổng-Mạnh Trung Quốc, du nhập kỹ thuật Tây phương, kiến tạo ra một mô hình chính trị xã hội bắt kịp đà tiến bộ của nhân loại. Tại sao Đại Việt lại trì trệ bỏ vuột thời cơ và đắm chìm trong chém giết? Xin đọc Lời Nguyền của Chế Mân trong đoạn chót . Thứ nhất, ý thức của người Đại Việt về việc chung không nhiều, thường quan tâm đế chuyện bòn rút của riêng, chỉ biết một hiện tại phù hư mà không biết lựa lọc quá khứ rút ra những bài học lịch sử, vì thế chẳng thể tìm ra được một tương lai xứng tầm. Thứ nhì, sự đắm đuối vào vực sâu quyền lực và danh lợi. Trong bất cứ triều đại nào, chỉ 1,2 đời là Vua, Quan hoá ra rắn rít, thành đĩ bợm đi đánh lừa dân gian, và rồi đi với ma mặc áo giấy, dân gian cũng đĩ bợm, chia rẽ. hằn thù, phản phúc, chém giết lẫn nhau... Đã thế, thảm kịch nội chiến được tô vẽ bằng những mỹ từ như tiền đồn cái này, đỉnh cao cái nọ, và tuy chỉ láu vặt nhưng bọn nắm thế quyền lại hợm hỉnh hô ta là một dân tộc anh hùng, anh hùng đông đến mức cứ ra ngõ là gặp. Nhưng chúng không hiểu một dân tộc hạnh phúc tiến bộ cần hiền triết hơn cần anh hùng. Nhiều anh hùng nên máu đổ, tiếp tục nghèo, tiếp tục u mê, say máu... vì thế tương lai có khả năng cứ lại là những đổ nát khó hàn gắn được. Thứ ba, là lớp sĩ phu. Bọn này phần đông dùng chữ nghĩ kiếm lợi, phò chính thống, đánh đĩ lương tâm qua những mỹ từ lung lạc lòng người. Chúng mang cái bệnh chỉ nhìn thấy chóp mũi, nhưng đại ngôn đao to búa lớn, mặc dầu rỗng ruột, và chất hèn ngấm vào sống lưng khiến chúng không bao giờ đứng thẳng được ... Đám sĩ phu chính trực có, nhưng thời nào cũng hiếm, không thay đổi được thế cuộc, xưa thì cuối cùng về ở ẩn, dạy học, nhẫn nhục chịu cái thế bó chân bó tay...

&
Nghiễm thở dài, thốt, thời nay thì cũng vậy thôi!
Chúng tôi trầm ngâm chiêu một ngụm bia nuốt xuống nỗi buồn chỉ chực trào ra. Quán không còn khách nào khác. Tiếng xe cũng ngơi dần. Ông chủ quán ngáp dài, bảo hai vị cứ tự nhiên, khi đi thì rung chuông để quán mở cửa cho khách về.
Bây giờ mình hỏi bạn về Bể Dâu nhé!
Quyển I, viết về Cải Cách Ruộng Đất, rồi Cải Tạo Công Thương Nghiệp và Nhân Văn Giai Phẩm là cần, và hay, rất cảm động. Nhưng quyển II, mình có vài thắc mắc. Tại sao bạn khởi đi từ 1973 với mặt trận Quảng Trị?
Vì tôi muốn nhấn mạnh đến tính cách nội chiến, một điều mà tôi bị ám ảnh ngay trong cuốn Gió Lửa. Tuy nội chiến chỉ là một khía cạnh, nhưng tôi lại cho đó là khía cạnh quan trọng nhất khi chúng ta nhìn vào tương lai của đất nước sau này. Dẫu có đề cập nhưng tôi không nhấn mạnh đến lính Mỹ. Chính sách thay màu da trên xác chết của Nixon-Kissinger khiến giai đoạn cuối của chiến tranh ủy nhiệm mang nặng màu sắc một cuộc nội chiến. Hận thù lại chồng chất, và điều gọi là hòa hợp hòa giải dân tộc sau chiến tranh chỉ thuần là đầu môi chót lưỡi. Trước hết, phải hóa giải hận thù, nhưng chẳng dễ!
Khởi đi từ 1973 là vì tôi không muốn nhắc đến cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế. Câu chuyện kinh hoàng này đã có Giải Khăn Xô cho Huế của Nhã Ca rồi, nhắc lại thì chỉ khoét cho thêm sâu những cái chết lẽ ra không cần!
Trong Bể Dâu II, tôi viết về thân phận 2 người lính, một Nam một Bắc, vốn là anh em ruột thịt song sinh, hòa bình rồi mà nào tìm được thấy nhau đâu. Sự chia cắt này không phải đến từ bất cứ ý thức ‘’ chính trị’’ nào. Người từ miền Nam vượt biển, đi tìm tự do trong cái thập tử nhất sinh của kẻ lên thuyền máy liều mạng vượt đại dương bất chấp những con sóng dữ. Người từ miền Bắc cụt chân, đẻ con thì con là quái thai vì chất độc da cam, phát điên, và trở thành thi sĩ như nghiệp định. Buồn, nhưng sinh ly tử biệt là... bất khả tư nghì! Ngoài ra, sự tàn khốc của chiến tranh thì đã có Đại Lộ Kinh Hoàng của Phan Nhật Nam. Và tính hài hước của lính sinh Bắc tử Nam anh hùng thì phải kể Hòn Đất của nhà văn ăn lương Đảng là ông Anh Đức, khơi khơi cho 1 tiểu đội du kích đánh tan nát cả một Trung đoàn lính Mỹ - Ngụy!
Kể anh nghe, năm 2007 anh Nguyễn Mộng Giác đọc rồi bảo phải hai mươi năm nữa Bể Dâu mới trở về quê hương được! Tức là phải đợi đế năm 2027, nhưng lúc ấy chắc mộ tôi xanh cỏ rồi!
Nghiễm cười buồn, nốc một ngụm bia, nhìn lên con thạch sùng chạy trên kèo quán, không đáp.

&
Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm
Nghiễm in dưới cái tên Lênh Đênh Qua Cửa Thần Phù một tập 3 truyện ngắn và vừa, có truyện dưới dạng du ký, một dạng tôi rất đắc ý. Tôi đã viết Trăng Nguyên Sơ và Ghềnh V dưới dạng này, một dạng cho phép tha hồ nghêu ngao, tâm tình, và tha hồ hư cấu, ẩn dụ. Nhưng đó là truyện đã viết. Giọng bí mật, Nghiễm bảo, mình đang viết Nguyễn Du tự truyện. Anh hỏi, bạn có biết những giây phút cuối cùng Du hành xử ra sao. Thưa anh biết. Hỏi lại, anh biết Du cũng từng dấy quân phù Lê đánh lại nhà Tây Sơn chứ. Ờ, chàng kiếm sĩ Toàn Nhật trong Gió Lửa bắt huyện quan Tây Sơn mang đến nhà Du và thúc, Du chém nó đi. Đến cắt tiết gà cũng ghê tay, Du chẳng dám, lắc đầu. Nhật bảo Du, đệ là một nghệ sĩ, sinh ra cho cái đẹp, chớ can vào những chuyện tranh chấp vấy máu, làm bẩn tâm hồn mình!
Nghiễm trầm ngâm, Du là con Quận Công Nguyễn Nghiễm, em quan Chánh dường Nguyễn Khản lo toan chính quyền trong phủ Chúa Trịnh, hẳn thừa biết mình mang ân huệ triều đình vua Lê-chúa Trịnh, không thể phủi tay theo về nhà Tây Sơn như những danh gia như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huy Tự... mặc dầu cũng hiểu là vận nhà Lê đã đến lúc cáo chung. Dùng dằng cho đến khi Nguyễn Ánh triệt hạ được nhà Tây Sơn, Du xuất (ra) thì không cam lòng, nhưng xử (ẩn) thì Ánh cho người đến tận làng "vời’’ ra. Làm thế nào đây hả Trời? Rồi thì cũng gặp thời thế thế thời phải thế, đành vào Phú Xuân, rồi nhận đi xứ sang Tàu xin cầu phong, nhưng thường là "không ý kiến’’ khiến Ánh có lần nạt: ta gây dựng cho, sao ngươi cứ ngậm tăm im thin thít là làm sao?
Nhưng Du có lựa chọn nào? "Ai buộc chúng ta phải chấp nhận con đường có sẵn?...’’ Nghiễm từng hỏi. Ai? ai? Đời bắt vậy, và ta đành nhượng bộ? Thành thợ sơn mài 2 năm sau 75, làm tới 1990 thì hết việc, Nghiễm vui vẻ về nhà nấu cơm rửa bát phục vụ vợ con, vẫn cứ tự tại, hồn nhiên như chẳng có chuyện gì quan trọng hơn thế. Chẳng biết chính quyền "cách mạng’’ có o ép Nghiễm làm gì không, nhưng nếu có thì cũng như không, và chẳng đi xứ xin cầu phong, chắc chắn Nghiễm tránh được cái thế của Du phải phủ định Lê-Trịnh là cái chế độ từng cưu mang mình! Phải chăng chính khác biệt này khiến Nghiễm cảm được cái thảm kịch của Du, nên viết Nguyễn Du Tự Truyện như một sự đồng cảm, một chia xẻ tâm tư trước những dâu bể tang thương dẫu rằng họ sống cách nhau gần hai thế kỷ. Chỉ mới được đọc một đoạn, tôi quả tình không biết Nguyễn Du Tự Truyện như thế nào. Nhưng xin một lời với chị Trang, nay là bà quả phụ của nhà văn Dương Nghiễm Mậu, là nếu có bản thảo thì xin chị chớ thất lạc hầu để lại thêm chút vốn liếng cho văn học và cho những đời sau.
Phút cuối, Du bảo người nhà sờ chân và hỏi: Lạnh chưa? Dạ, rồi! Thế thì tốt! Cái lạnh đi từ chân, lên bụng, ngực, và cuối cùng là đầu. Tốt, từ nay không còn vấn vương gì! Thôi suy tư, nghi hoặc. Và nhất là chẳng cần chọn lựa gì nữa!
Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.
Ba trăm năm sau ai khóc Tố Như? Hai trăm năm, nay hẳn đã có Nghiễm.
Còn một trăm năm nữa cho đủ số ba trăm, sẽ là ai?

&
Khuya không còn taxi, xe ôm nên Nghiễm bảo đợi sáng rồi hẵng về. Trời tờ mờ thì tôi lên đường, phải cuốc bộ từ nhà thờ Ba Chuông về nơi tôi cư trú ở gần chợ Trương Minh Giảng. Tôi nói anh khỏi đưa, cả đêm không ngủ, chắc ai cũng mệt. Đi, anh đứng nhìn theo, vẫy. Vừa bước, tôi vừa ngẫm nghĩ. Du hẳn phải tự tin vô cùng khi ra cái hạn ba trăm năm. Tài mọn, chúng tôi cầu chỉ 30 năm cũng khó. Nhưng Nghiễm thì quá cái hạn này rồi. Chẳng hạn Nhan Sắc in năm 1966. Năm nay là năm 2011 mà tôi còn nhớ, tức là đã chẵn 45 năm. Mới đây, khi tái bản 4 cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn của Nghiễm ở Sài Gòn, Vũ Hạnh và lũ văn nô ồn ào lăng nhăng chống đối. Ấy thế thì đối với người đời văn chương anh lại càng đáng nhớ! Ôi , có những nghịch lý thật đáng yêu như thế đó!

&
Tết năm Ngọ, chúng tôi ăn tất niên với nhau. Nhà hàng nào cũng đông như kiến. Không tìm ra chỗ, anh rủ đến cái câu lạc bộ nằm cạnh nơi sản xuất sơn mài mà anh đã làm ngày trước. Anh đi trước, dáng thanh thanh, bước thăn thoắt. Nga và Trang theo sau, bị bỏ tuốt đàng sau. Tôi chạy theo, anh Nghiễm ơi, đi đâu mà vội mà vàng, các bà hụt hơi theo anh không kịp. Anh cười, điềm nhiên, à một tiếng rồi đứng lại chờ. Ấy thế mà đã gần ba năm rồi. Anh vốn mạnh khoẻ, sáng nào cũng đi bộ hàng giờ, và nhất là anh chẳng bao giờ lộ vẻ bi quan, lúc nào cũng tươi cười, hồn nhiên, lịch lãm. Đùng một cái, anh đột ngột ra đi. Như một vì sao sa. Dấu vết là ánh lửa xẹt ngang trời trong một chớp mắt.
Hôm nay, 49 ngày từ khi anh bỏ đi xa. Cũng là ngày anh thoát kiếp và sẽ tái sinh, theo truyền thuyết. Anh Nghiễm, cụ Nguyễn Công Trứ thì xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Còn anh? Anh định làm gì? Anh có reo với trời cao không? Anh định nói thêm gì nữa? Tôi thì nghĩ, từ tro than, anh sẽ bay lên thật cao như một đốm lửa tìm cách soi những con đường mới, những con đường do chính anh chọn lựa.
Kính viếng

18/09/2017
19-09-2017
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Năm 20224:06 CH(Xem: 50)
Quá nửa khuya, rạng sáng ngày 7/5/2020, cái tin nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển từ trần lan truyền nhanh trên mạng. Ai nấy đều bàng hoàng: bầu trời âm nhạc VN đã vừa vụt tắt một ngôi sao – Sao Biển!
13 Tháng Năm 20229:12 SA(Xem: 72)
Tuân Nguyễn tên thật là Nguyễn Tuân sinh tháng 9 năm 1933 ở xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế
23 Tháng Tư 20223:42 CH(Xem: 1426)
Chúng ta nói về ông lúc này là để nói với chính chúng ta, về sự dấn thân, về lương tâm và lòng quả cảm của một người cầm bút.
26 Tháng Ba 20223:52 CH(Xem: 366)
Giờ đây, anh đã vĩnh viễn ra đi theo một cách khác, đồng thời cũng là một cách ở lại như một nhà văn tự do, anh đã viết cho mình một kết thúc đẹp.
26 Tháng Hai 202212:50 CH(Xem: 429)
“Ga Cuối Đường Tàu” của Chú Huy Phương, chưa hẳn đã là ga cuối. Cái ga cuối vẫn mãi là nỗi khắc khoải bến Quê Nhà!
05 Tháng Giêng 20223:53 CH(Xem: 1044)
Nghiêu Đề, Ngọc Dũng, và rồi Đinh Cường. Những con Cá Vàng như lời ví von của một năm nào, rất cũ. Lần lượt đã theo dòng nước trôi, rồi biến mất tăm, và sẽ quên lãng hết, ngay cả trong lòng người.
25 Tháng Mười Hai 20212:42 CH(Xem: 659)
Tôi hiểu, trong người phụ nữ nhỏ nhắn mà bạn tôi cảm phục mang chiều sâu của cả một nền văn hóa.
23 Tháng Mười Hai 20211:38 CH(Xem: 4228)
Tôi nhớ lại, từ khi tôi là 1 con bé cho đến ngày trưởng thành, mọi biến cố trong đời sống đều có Bác. Vậy mà hôm nay, một biến cố kinh hoàng đã xảy ra, lại không còn Bác nữa.
25 Tháng Mười 20215:26 CH(Xem: 761)
Ngậm ngùi tiễn biệt anh. Tiễn anh một đoạn đường mà xa xôi vạn dặm. Mai này, có còn một Lê Văn nữa hay không? Lòng em buồn man mác nỗi nhớ anh.
02 Tháng Mười 20214:33 CH(Xem: 1147)
Phi Nhung kiếm sống bằng nhiều nghề, từ việc bán trà nóng trong khu Chợ Mới, thêu thùa may vá, cơ cực tảo tần sớm hôm.
Du Tử Lê Thơ Toàn Tập/ Trọn bộ 4 tập, trên 2000 trang
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-360-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 30350)
Bài thơ đầu tiên (?) của Tô Thùy Yên được giới thiệu trên Sáng Tạo, gây tiếng vang lớn và, dư âm của nó, kéo dài nhiều năm sau, là “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” viết tháng 4 năm 1956.
(Xem: 68)
Nhưng tôi vẫn yêu (yêu lắm,) việc làm của bạn. Bởi vì, với tôi, tự thân đời sống bạn tôi, đã là một trường khúc
(Xem: 11970)
Hay ước nguyện cuối cùng trước khi nhắm mắt, không chỉ của giới trẻ mà, của rất nhiều văn nghệ sĩ thời đó là, một lần được đứng dưới những ngọn đèn vàng của ga Lyon!
(Xem: 13632)
Trước khi theo đơn vị dư cư vào miền Nam, năm 1954, nhà văn Văn Quang bị động viên khóa 4 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
(Xem: 448)
ông được trao huy chương vàng cuộc triển lãm hội họa, do cơ quan Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa UNESCO, thuộc tổ chức Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Roma năm 1967.
(Xem: 7062)
Đầu mùa Dã quỳ nở năm nay, Du Tử Lê lặng lẽ trở lại Pleiku, miền đất mà ông đã gửi gắm một thời thanh niên của mình ở đấy.
(Xem: 4463)
Nói như Orchid Lâm Quỳnh, không có cái gọi là “better place” cho bố, vì bố đã rất ấm áp, bình an trong ngôi nhà đó. Thiên đàng ở đâu thì kệ nó chớ!
(Xem: 300)
Du Tử Lê là Thi Sĩ Một Đời. Thi Sĩ Viết Hoa, tôi viết và biết về thi sĩ như thế. Ông không chỉ làm thơ. Ông sống với thơ. Sống bằng thơ. Thơ với ông là một.
(Xem: 3313)
trong biết bao nhiêu lần âm thầm nói lời chia biệt từng thân thương, gia đình, bằng hữu,… lần này là thật.
(Xem: 3017)
Tôi đã thảng thốt khi nghe tin Du Tử Lê qua đời, từ cú điện thoại một người bạn làm thơ và làm báo.
(Xem: 14504)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 4034)
Nhưng, khi em về nhà ngày hôm nay, thì bố của em, đã không còn.
(Xem: 4442)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 4965)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 5034)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 25233)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 19432)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 16978)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 20404)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 18184)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 16847)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 14379)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 13481)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 13634)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 12631)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 12168)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 19291)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 26493)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 31267)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 22520)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 24599)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 27490)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 26919)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 22620)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
2,319,686,071,855,368,569