“Ân huệ” của chiến tranh: Chiếc thẻ bài vô tri? (Kỳ 02)

01 Tháng Năm 201911:01 SA(Xem: 242)
“Ân huệ” của chiến tranh: Chiếc thẻ bài vô tri? (Kỳ 02)

(Tiếp theo và hết)

Giới thiệu nhân thân của nhân vật chính, xương sống của truyện, tác giả “Tro Tàn” viết:

“…Tôi là người đàn bà ít may mắn. Lập gia đình sớm, năm mười chín tuổi. Hồi đó, bố Hạo vừa tốt nghiệp trường Sĩ quan trừ bị và tôi sửa soạn vào trường Sư phạm. Ngay sau lễ cưới, chồng tôi được lệnh tham dự những cuộc hành quân xa và tôi ở lại nhà. Sau này thỉnh thoảng chồng tôi về thăm gia đình nhưng thường những ngày đoàn tụ ấy không lâu. Tôi có thai Hạo vào giữa thời kỳ lên lớp năm đó, và nó là chứng tích của những ngày tháng tôi sống vò võ một mình. Hạo giống bố và hai đứa em của nó sau này, giống tôi. Nhà tôi tử trận cách đây hai năm. Cái tang trong đời tôi chưa nguôi ngoai thì Hạo lên đường…

“Chồng tôi rong ruổi trên cuộc sống khô khan ấy trong gần hai mươi năm với cấp bậc sau cùng, đại tá.. Thời gian đằng đẵng như vậy vẫn chưa đủ chấm dứt sao? Và con tôi lại tiếp tục đến bao giờ? Chiều nay tôi có mặt ở đây để tìm con, tôi có lý do để phiền muộn, phẫn nộ cho những điều kỳ quái ấy. Khi mới lớn, tôi đã nhìn thấy có chiến tranh. Cuộc chiến ấy kéo dài cho đến tận bây giờ. Không biết bao giờ mới kết thúc…” (TT, trang 17)

Nhân thân người đàn bà trong truyện của Đinh Phụng Tiến và, những cảm nghĩ, những câu hỏi không có câu trả lời, rất quen thuộc trong đời sống thực của những phụ nữ miền Nam ở giai đoạn lửa đạn như “được mùa”, đã vùn vụt gia tăng cường độ. Dường như hiếm có gia đình nào không có ít nhất một người đàn ông đã vĩnh viễn nằm xuống, như một hậu quả đương nhiên của thời thế, chiến cuộc!

Chiếc bóng, cái chết của người chồng, người cha, trong đời thực của nhân vật chính trong “Tro tàn” của họ Đinh là chiếc khăn tang thứ nhất sớm chít trên đầu người vợ còn quá trẻ và những đứa con, có đứa chưa kịp trưởng thành, trước khi hai mươi năm sau, người đàn bà bất hạnh này, lại tự chít lên đầu mình một khăn tang khác.

Và, sau đây, cũng là hoạt cảnh rất quen thuộc với nhiều người mẹ có con bị ném vào lò thiêu bom đạn:

“…Tôi bằng lòng theo người đàn ông ấy vào điếm canh, chờ Hạo. Đứa trẻ mà cho tới tận bây giờ tôi vẫn nghĩ nó còn bé dại…” TT, trang 21)

Cảm nghĩ này của người mẹ Việt Nam, cũng là một thứ tâm lý chung của hầu hết các bà mẹ Việt Nam, được Đinh Phụng Tiến ghi nhận một cách
sâu sắc.

Tiếp theo là sự kinh ngạc và, cũng là tâm lý tự nhiên của người mẹ VN trong chiến tranh, đến nơi đồn trú, thăm con:

“…Nghe người trung sĩ hồi nãy kêu nó bằng “ông” không khỏi dậy trong lòng tôi một cái gì đó rất lạ lùng. Hạo đã lớn, quả thật nó đã lớn. Bố nó ngày xưa khi trao cho tôi thư tình đầu tiên cũng cỡ tuổi này. Tôi hoảng hốt và sợ hãi. Nó đã vượt khỏi tầm tay, vượt khỏi tình yêu thương của tôi khiến tôi tưởng tôi chẳng còn gì nữa. Gia tài chồng tôi để lại cho tôi chỉ có ba đứa con…” (TT, trang 21)

Đúng nhất, phải nói rằng, sự vuột mất khỏi vòng tay, khỏi vòng ôm thương yêu của người mẹ, không phải do đứa trẻ chủ động mà, đó là nhát chém thứ nhất của chiến tranh, như một thứ trớ trêu, đành hanh của định mệnh bao trùm một giải đất!

Sự trớ trêu của định mệnh còn ném những đứa trẻ ra khỏi ngôi nhà ấm êm hạnh phúc chúng, khi chúng cho những người mẹ đau khổ biết rằng, chúng không còn bé dại nữa, chúng đã thực sự trưởng thành và muốn thoát khỏi tấm lưới bảo bọc của người mẹ:

“…Chợt người lính kêu lên: Kìa, chuẩn úy Hạo đã về kia, thưa bà. Nói rồi anh ta la lớn: Chuẩn úy! Chuẩn úy! Tôi đứng lên, qua khung cửa Hạo đã trông thấy tôi. Nó chạy lại và đứng sững ngay trước cửa, cùng lúc la lên thảng thốt: Má!

Nhưng giây phút cảm động, bất ngờ về sự có mặt của mẹ ở vùng hành quân, người con còn trẻ đã thống trách mẹ mình rằng, tại sao nó đã có thư yêu cầu mẹ đừng đi thăm nó, Và:

“…con muốn má ở nhà với Thục và Nhi. Còn con, con có thể tự xoay xở lấy được. Sao lúc nào má cũng coi con như đứa trẻ nít mãi vậy? “-Không. Má biết con đã lớn. Nhưng má ước ao lúc nào con cũng là đứa trẻ nít đối với má. Vì đó là lẽ sống của má…” (TT. Trang 24)

Nhưng bi kịch của cuộc chiến miền Nam hơn 20 năm, không ngừng ở sự việc những người mẹ sớm mất những đứa con máu thịt của họ mà, chiến cuộc còn tiếp tục xuống tay bằng những vết chém thần lặng, là sự đứt lìa những mối tình tuyệt vọng của lớp người trẻ qua câu chuyện khá phổ cập là chuyện một thiếu nữ ba lần đốt áo cưới của mình. Khi cả ba ý trung nhân của cô, lần lượt ngã xuống bởi những viên đạn mù lòa, từ phía đối phương, họ Đinh lạnh lùng ghi lại:

“…Sau tang lễ, Hoài đem tấm áo cưới xếp lại gọn ghẽ, cất trong tủ áo như cất mối tình dang dở. Nhưng những bà cô ông chú trong họ hàng có tính dị đoan, bàn rằng hãy đốt ngay tấm áo cưới đó đi. Bởi vì, theo họ thì cô còn quá trẻ không thể sống cuộc đời góa bụa như vậy, Cô sẽ còn đi “một bước
nữa”. Ban đầu, Hoài không chịu nhưng trước áp lực của mọi người, cô để mặc ai muốn làm gì thì làm. Cô bỏ học, sống như một người mất trí. Khi tấm áo cưới được đốt dưới ngọn lửa to là lúc cô cảm giác đi theo tang lễ một lần nữa…

Về những giây phút cuối cùng của Huấn, người chồng chưa kịp cưới của Hoài được đồng đội kể lại, có một chi tiết mà dường như nó chỉ xẩy ra trong cuộc chiến Việt Nam mà thôi:

“…Người hiệu thính viên đã chết. Lúc này, Huấn vừa là người chỉ huy vừa chiến đấu như một người lính và vừa liên lạc với cấp trên, trong vai người hiệu thính viên. Anh xin pháo binh bắn đạn nổ chụp lên đầu mình vì căn cứ đã bị tràn ngập. Yêu cầu của anh được trung tâm hành quân đáp ứng ngay, vì không còn cách nào khác. Quyết định của Huấn là một quyết định tuyệt vọng và can đảm. Đây là một yêu cầu tự sát để cùng chết với đối phương…

“Huấn chết ngay trong loạt đạn đầu tiên dội trên đầu mình. Xác hai bên nằm hỗn độn…”

Vì thế, xác của Huấn nằm chung với xác đối phương:

“Người ta nhặt được khúc mình, xếp khúc đầu đã nát nằm chung. Có những chỗ quần áo cháy nát không còn. Thêm vào cái xác ấy là một cẳng chân còn dính chiếc giầy bốt, chiếc cẳng chân khác không có giầy, không có bàn chân, không biết của ai. Người ta xếp vào luôn cho đủ… (TT, trang 67, 68.)

Và, bi kịch chồng tréo bi kịch. Sự khốc liệt không chỉ dành riêng cho người chết mà, hậu qua ghê khiếp hơn cả, vẫn là điều được coi là “di sản” để lại
cho người sống.

Kiếp sống nào dù vắn vỏi hay dài lâu, cuối cùng rồi cũng phải bước vào cửa tử. Khác nhau chăng, những người trẻ chết trong lửa đạn và những người mẹ, người vợ, những đứa trẻ… vẫn phải tiếp tục sống như nhát chém cuối cùng của chiến tranh:

“…Tôi trở về nghĩa trang quân đội Dĩ An ở Biên Hòa. Con tôi nằm trong chiếc quan tài có phủ cờ vàng. Trong nhà tang lễ hoang vắng, có những người lính bồng súng gác, đứng yên như tượng đá. Tôi hỏi, con tôi đâu?

Người ta nói đang nằm trong đó. Tôi đòi mở nắp quan tài cho tôi nhìn mặt con tôi lần chót. Người ta bảo sẽ không nhìn thấy mặt vì trong chiếc quan tài ấy chỉ còn là đống thịt vụn. Tôi gào lên, con tôi còn sống, người ta đã chôn nhằm xác. Hãy mở ra, mở nắp quan tài cho tôi. Người ta bảo không có sự nhầm lẫn nào ở đây, vì chỉ một trái 122 ly làm chết một người. Chiếc thẻ bài của người tử sĩ là duy nhất…” (TT, trang 217, 218)

Phải chăng, “ân huệ” duy nhất mà chiến tranh dành cho người sống, là tấm thẻ bài vô tri?

Du Tử Lê,
(Tháng 5-2019)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Sáu 20199:58 SA(Xem: 135)
Một trong những chương sách đạt tới tiêu chí ấy là chương tựa đề “Đất và nhà của bà Nhu ở Đà Lạt”
05 Tháng Sáu 20199:50 SA(Xem: 137)
...mặt bên kia của Đà Lạt êm đềm, Đà Lạt “đất hứa” thì Đà Lạt còn là vùng giao tranh và mưu toan quyền lực.
28 Tháng Năm 201911:31 SA(Xem: 280)
Phần tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên, cũng cho thấy bản chất thận trọng tới từng chi tiết
01 Tháng Năm 201910:57 SA(Xem: 310)
“Tro tàn” là một chuyện viết về chiến tranh hiếm hoi, tương đối im, vắng tiếng súng
23 Tháng Tư 201910:43 SA(Xem: 420)
Đây không phải là một bộ lịch sử văn học.
15 Tháng Tư 201912:45 CH(Xem: 318)
Theo đánh giá chủ quan của ông thì ông và các bạn thu thập được khoảng bao nhiêu phần trăm tác phẩm và tác giả Việt hải ngoại kể từ tháng 4-1975?
10 Tháng Tư 20192:05 CH(Xem: 381)
Bộ sách gồm 7 cuốn khổ lớn, bìa cứng, mỗi cuốn dầy trên dưới 800tr, tổng cộng 4,900 trang
03 Tháng Tư 20191:44 CH(Xem: 288)
Tôi vẫn quan niệm, tài năng của một người làm công tác sáng tạo
01 Tháng Tư 20199:33 SA(Xem: 213)
“Bên Dòng Sông Kỷ Niệm”, là Album thứ tư của người nhạc sĩ kỹ tính Nguyên Bích.
25 Tháng Ba 201911:10 SA(Xem: 300)
Nhờ có trong tay những tài liệu mới được giải mật, nhất là từ những văn khố của khối CS
Cơ sở HT Productions cùng với công ty Amazon đã ấn hành Tuyển tập tùy bút “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” của nhà thơ Du Tử Lê.
Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
TÁC GIẢ
(Xem: 135)
Một trong những chương sách đạt tới tiêu chí ấy là chương tựa đề “Đất và nhà của bà Nhu ở Đà Lạt”
(Xem: 137)
...mặt bên kia của Đà Lạt êm đềm, Đà Lạt “đất hứa” thì Đà Lạt còn là vùng giao tranh và mưu toan quyền lực.
(Xem: 280)
Phần tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên, cũng cho thấy bản chất thận trọng tới từng chi tiết
(Xem: 242)
Giới thiệu nhân thân của nhân vật chính, xương sống của truyện
(Xem: 310)
“Tro tàn” là một chuyện viết về chiến tranh hiếm hoi, tương đối im, vắng tiếng súng
(Xem: 56)
Ông chia sẻ nhận định: “Nếu cứ nhớ mãi những ấu thơ của mình, có lẽ người ta sẽ bớt đi hận thù mà vui sống bên nhau.”
(Xem: 112)
Một dấu nối lặng lẽ với hôm qua, Sài Gòn, khi ta gặp lại một người quen cũ, đã lâu, trong câu chuyện mới. Du Tử Lê, ông vẫn làm thơ, sống thơ.
(Xem: 100)
Tuyển tập này là một dấu mốc lớn của dòng văn học Việt Nam, cả trong và ngoài nước.
(Xem: 524)
Tôi thích thơ từ thuở bé. Kiều, Chinh phụ Ngâm, Cung oán ngâm khúc
(Xem: 259)
Tập thơ "em cho tôi nhé: ấu thơ mình" của thi sĩ Du Tử Lê, do nhà xuất bản Văn Học của dịch giả kiêm nhà văn Trịnh Y Thư phát hành vào trung tuần tháng tư 2019
(Xem: 623)
Thơ Du Tử Lê, nhạc: Trần Duy Đức
(Xem: 1031)
Thời gian vừa qua, nhà thơ Du Tử Lê có nhận trả lời phỏng vấn hai đài truyền hình ở miền nam Cali là SET/TV và V-Star-TV.
(Xem: 1089)
Triển lãm tranh của Du Tử Lê, được tổ chức tại tư gia của ông bà Nhạc Sĩ Đăng Khánh-Phương Hoa
(Xem: 20935)
Tôi gọi thơ Du Tử Lê là thơ áo vàng, thơ vô địch, thơ về đầu.
(Xem: 15644)
Nhà báo Vũ Ánh phỏng vấn Du Tử Lê 11-2013
(Xem: 13346)
12-18-2009 Nhà thơ Du Tử Lê phỏng vấn nhạc sĩ Thân Trọng Uyên Phươn
(Xem: 16555)
Khi gối đầu lên ngực em - Thơ Du Tử Lê - Nhac: Tịnh Hiếu, Khoa Nguyễn - Tiếng hát: Đồng Thảo
(Xem: 14600)
Người về như bụi - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Quốc Bảo - Tiếng hát: Kim Tước
(Xem: 13041)
Hỏi chúa đi rồi em sẽ hay - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Tiếng hát: Tuấn Anh
(Xem: 11001)
Khái Quát Văn Học Ba Miền - Du Tử Lê, Nguyễn Mạnh Trinh, Thái Tú Hạp
(Xem: 10127)
2013-03-30 Triển lãm tranh Du Tử Lê - Falls Church - Virginia
(Xem: 10292)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 9401)
Triển Lãm Tranh Du Tử Lê ở Hoa Thịnh Đốn
(Xem: 9040)
Triển lãm Tranh và đêm nhạc "Giữ Đời Cho Nhau" Du Tử Lê đã gặt hái sự thành công tại Seattl
(Xem: 10444)
Tình Sầu Du Tử Lê - Thơ: Du Tử Lê - Nhạc: Phạm Duy - Tiếng hát: Thái Thanh
(Xem: 15556)
Nhà báo Lê Văn là cựu Giám Đốc đài VOA phần Việt Ngữ
(Xem: 22122)
ngọn cây có những trời giông bão. ta có nghìn năm đợi một người
(Xem: 27712)
Cung Trầm Tưởng sinh ngày 28/2/1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi ông bắt đầu làm thơ,
(Xem: 19222)
Tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954
(Xem: 20326)
ơn em thơ dại từ trời/theo ta xuống biển vớt đời ta trôi/ơn em, dáng mỏng mưa vời
(Xem: 24492)
Nhạc sĩ Đăng Khánh cư ngụ tại Houston Texas, ngoài là một nhạc sĩ ông còn là một nha sĩ
(Xem: 22357)
Nhan đề đầu tiên của ca khúc “Hạnh phúc buồn,” là “Trong tay thánh nữ có đời tôi.”
(Xem: 18740)
Bác sĩ Bích Liên tốt nghiệp cử nhân Khoa học tại Đại Học UCI (1982), Tiến sĩ Y Khoa Đại học UCI (1987
Khách Thăm Viếng
2,178,754